Đóng

Xử lý nghiêm vi phạm hành chính nhưng phải bảo đảm quyền lợi của người dân, doanh nghiệp

  • Dương Thu (t/h)
(DS&PL) -

Góp ý dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) tại phiên thảo luận Tổ, nhiều ý kiến đề nghị hoàn thiện các quy định theo hướng bảo đảm tính nghiêm minh, hiệu lực thực thi pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp; tạo điều kiện để người vi phạm khắc phục hậu quả, sửa sai.

Chiều 26/10, Quốc hội thảo luận tại Tổ, cho ý kiến đối với: Dự án Luật An ninh dữ liệu; Dự án Luật Định danh và xác thực điện tử; Dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi).

Quang cảnh phiên thảo luận tại Tổ 3. (Ảnh: Lâm Hiển)

Đối với dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), các đại biểu tại Tổ 3 (gồm Đoàn ĐBQH các tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Lạng Sơn, Hà Tĩnh) cơ bản tán thành sự cần thiết sửa đổi Luật, đồng thời đóng góp nhiều ý kiến nhằm hoàn thiện cơ chế xử lý vi phạm, bảo đảm tính khả thi, phù hợp với thực tiễn và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.

Đại biểu Vũ Văn Tiến, Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng cho rằng, muốn đất nước phát triển, xã hội có kỷ cương thì pháp luật phải được thượng tôn, mọi hành vi vi phạm đều phải được xử lý công bằng, nghiêm minh. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải lựa chọn biện pháp xử lý phù hợp, vừa bảo đảm tính răn đe, vừa tạo điều kiện cho người vi phạm khắc phục hậu quả, sửa sai.

“Xử phạt thế nào để người dân thấy thấu tình, đạt lý; người vi phạm phải chịu trách nhiệm nhưng vẫn có cơ hội khắc phục, sửa sai; người không có lỗi không bị vạ lây”, đại biểu nhấn mạnh.

Quan tâm đến quy định về cưỡng chế ngừng cung cấp điện, nước, Internet, đại biểu Vũ Văn Tiến chia sẻ với yêu cầu phải có công cụ cưỡng chế đủ mạnh đối với những trường hợp đã bị xử phạt, đình chỉ hoạt động nhưng vẫn cố tình không chấp hành.

Tuy nhiên, điện, nước, Internet hiện nay không chỉ phục vụ sinh hoạt mà còn là công cụ lao động, phương tiện bảo đảm sinh kế của người dân. Trường hợp một cơ sở kinh doanh vi phạm nhưng việc ngừng cung cấp điện, nước lại ảnh hưởng đến những hộ dân sử dụng chung hệ thống thì quyền lợi của người không vi phạm sẽ được bảo vệ như thế nào? “Liệu vì một người làm sai có nên để những người không có lỗi cũng phải chịu thiệt?”, đại biểu đặt vấn đề.

Theo đại biểu, dự thảo Luật đã bổ sung nguyên tắc chỉ áp dụng biện pháp này khi không còn biện pháp cưỡng chế khác phù hợp, đồng thời giới hạn phạm vi tác động nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người liên quan. Tuy nhiên, cần tiếp tục đánh giá tác động, làm rõ ngay trong Luật trách nhiệm xác minh hạ tầng dùng chung, các trường hợp cần loại trừ và cơ chế khắc phục, bồi thường thiệt hại khi áp dụng không đúng.

Cùng quan tâm đến vấn đề này, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn, Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng đề nghị kiểm soát chặt chẽ các biện pháp cưỡng chế mới, trong đó có tạm hoãn xuất cảnh, ngừng cung cấp điện, nước, tạm dừng đăng kiểm, đăng ký phương tiện.

Theo đại biểu, cần xác định rõ điều kiện áp dụng, thẩm quyền, thời hạn, nghĩa vụ thông báo và cơ chế xem xét lại; ưu tiên các biện pháp ít xâm phạm quyền hơn, không để việc thực hiện nghĩa vụ nộp phạt dẫn đến hạn chế quyền công dân vượt quá mức cần thiết.

Đối với biện pháp tạm hoãn xuất cảnh, đại biểu đề nghị quy định rõ điều kiện xác định nguy cơ bỏ trốn, trách nhiệm thông báo trước và cơ chế chấm dứt ngay khi người vi phạm đã hoàn thành nghĩa vụ. “Không nên để người dân chỉ biết mình bị tạm hoãn xuất cảnh khi đến cửa khẩu”, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn lưu ý.

Đối với đề xuất nâng mức phạt tiền tối đa từ 1 tỷ đồng lên 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân và từ 2 tỷ đồng lên 3 tỷ đồng đối với tổ chức, tương đương mức tăng 50%, các đại biểu đề nghị đánh giá kỹ tác động và khả năng thi hành.

Đại biểu Vũ Văn Tiến cho rằng, những hành vi cố tình vi phạm, thu lợi bất chính, gây hậu quả nghiêm trọng phải được xử lý nghiêm, không để người vi phạm coi tiền phạt chỉ như “gãi ngứa”, “muỗi đốt inox”.

Tuy nhiên, mức phạt phải tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm và khả năng thi hành, đặc biệt đối với hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ. Nếu người vi phạm không có khả năng nộp phạt, cơ sở kinh doanh phải đóng cửa, người lao động mất việc trong khi hậu quả vi phạm chưa được khắc phục thì cần xem xét liệu mục tiêu cuối cùng của xử phạt đã đạt được hay chưa.

Đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát các quy định về hoãn, giảm, miễn và nộp tiền phạt nhiều lần, tạo điều kiện cho người gặp khó khăn nhưng có thiện chí chấp hành, đồng thời không để phát sinh kẽ hở cho các trường hợp cố tình vi phạm.

Đồng tình với yêu cầu phải đánh giá kỹ tác động, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn, Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng đề nghị bổ sung số liệu làm rõ căn cứ nâng mức phạt và kéo dài thời hiệu xử phạt lên tối đa 3 năm đối với một số lĩnh vực.

Theo đại biểu, cần phân biệt những vụ việc hết thời hiệu do tính chất vi phạm khó phát hiện với các trường hợp do chậm trễ trong thực thi pháp luật. “Không nên dùng kéo dài thời hiệu để thay thế trách nhiệm phát hiện, xử lý kịp thời”, đại biểu nhấn mạnh.

Đại biểu cũng đề nghị rà soát, xử lý những điểm chưa thống nhất giữa dự thảo Luật với pháp luật chuyên ngành, đặc biệt trong lĩnh vực chất lượng sản phẩm, hàng hóa; không để những xung đột về mức phạt và thẩm quyền áp dụng phải giải quyết bằng văn bản dưới luật.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng, đề nghị làm rõ cơ chế xử lý đối với người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy cố ý không chấp hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử.

Theo đại biểu, đây là vấn đề cần xem xét đồng thời trên hai phương diện: bảo đảm hiệu lực của quyết định quản lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng.

Quyết định được ban hành đúng pháp luật phải có cơ chế bảo đảm thực hiện. Tuy nhiên, việc lựa chọn biện pháp xử lý phải căn cứ vào hành vi, lỗi, tính chất và mức độ vi phạm, không thể chỉ dựa vào việc người đó từng nghiện ma túy hoặc đang thuộc diện quản lý sau cai nghiện.

Đại biểu đề nghị đánh giá đầy đủ hiệu quả của cơ chế xử lý hiện hành, đặc biệt đối với trường hợp đã bị xử phạt nhưng vẫn tiếp tục cố ý không chấp hành giám sát điện tử.

Theo đại biểu, cần phân biệt rõ việc xử lý hành vi vi phạm đã xảy ra với yêu cầu bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đang có hiệu lực. Việc ban hành quyết định xử phạt chưa đồng nghĩa với việc quyết định giám sát điện tử được chấp hành.

Đặc biệt, phải xác định chính xác hành vi cố ý không chấp hành, phân biệt với sự cố kỹ thuật và những trở ngại khách quan.“Dữ liệu cảnh báo là căn cứ để kiểm tra, xác minh; không nên được coi là kết luận tự động về hành vi và lỗi của người bị giám sát”, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nêu rõ.

Đại biểu cũng đề nghị phân biệt ba vấn đề: không chấp hành giám sát điện tử, tái sử dụng trái phép chất ma túy và tình trạng nghiện ma túy. Không thể chỉ từ hành vi không chấp hành giám sát điện tử mà suy ra người đó đã tái sử dụng hoặc tái nghiện.

Đối với phương án bổ sung trường hợp cố ý không chấp hành giám sát điện tử vào diện xem xét đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đại biểu đề nghị đánh giá đặc biệt thận trọng, chứng minh sự cần thiết, tính tương xứng, đồng thời quy định rõ hành vi, độ tuổi, số lần vi phạm, thời hạn áp dụng và các trường hợp loại trừ.

Cùng quan điểm về yêu cầu kiểm soát các biện pháp hạn chế quyền, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị cân nhắc kỹ đề xuất kéo dài thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính từ mức thông thường không quá 12 giờ lên 24 giờ, trường hợp cần thiết từ tối đa 24 giờ lên 48 giờ.

Theo đại biểu, cần chứng minh sự cần thiết bằng căn cứ thực tiễn, quy định rõ trong Luật điều kiện, thời hạn, thẩm quyền, cơ chế giám sát và khiếu nại, bảo đảm nguyên tắc hạn chế tối thiểu quyền tự do thân thể của công dân.

Đối với việc chuyển thẩm quyền áp dụng một số biện pháp xử lý hành chính từ Tòa án hoặc cơ quan cấp tỉnh về Chủ tịch UBND cấp xã, đại biểu đề nghị đánh giá đầy đủ điều kiện nguồn lực, tính độc lập trong xem xét, quyết định và khả năng bảo đảm quyền của người bị áp dụng.

Theo Cổng TTĐT Quốc hội

Tin nổi bật