Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và mạng xã hội đang làm thay đổi sâu sắc môi trường truyền thông toàn cầu, đặt ra những cơ hội cũng như thách thức chưa từng có đối với báo chí. Trong bối cảnh đó, các cơ quan báo chí buộc phải chuyển đổi mô hình hoạt động, đổi mới phương thức sản xuất nội dung, trong khi đội ngũ người làm báo cần liên tục cập nhật kỹ năng để thích ứng với xu hướng mới.
Để làm rõ những tác động của chuyển đổi số đối với nghề báo, cũng như yêu cầu đổi mới công tác đào tạo nguồn nhân lực báo chí trong thời đại số, PV Đời sống & Pháp luật có cuộc trao đổi với TS. Nhà báo Trần Bá Dung, Trưởng khoa Khoa Truyền thông và Thiết kế, Đại học Hoà Bình, nguyên Trưởng Ban Nghiệp vụ Hội Nhà báo Việt Nam để lắng nghe những chia sẻ về sự thay đổi của nghề báo, năng lực cần có của nhà báo hiện đại và định hướng đào tạo báo chí trong giai đoạn mới.
TS. Nhà báo Trần Bá Dung, Trưởng khoa Khoa Truyền thông và Thiết kế, Đại học Hoà Bình, nguyên Trưởng Ban Nghiệp vụ Hội Nhà báo Việt Nam
ĐS&PL: Nghề báo hiện nay đang thay đổi như thế nào trước sự phát triển mạnh của công nghệ số và mạng xã hội, thưa ông?
TS. Nhà báo Trần Bá Dung: Theo tôi, sự phát triển mạnh mẽ với tốc độ bùng nổ của công nghệ số và mạng xã hội đã tác động tới tất cả các yếu tố của nghề báo: lao động nhà báo, tốc độ, tính chất, quy trình sản xuất và phân phối nội dung, nhu cầu và thói quen tiếp nhận thông tin của công chúng, cách thức báo chí tiếp cận công chúng, kinh tế báo chí - truyền thông, đạo đức nghề báo,… Có thể thấy rõ nhất ở các yếu tố dưới đây:
Thứ nhất, mạng xã hội là thông tin tự do, không ai kiểm soát được (đúng hơn là Nhà nước chỉ hậu kiểm), với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ số, nên tốc độ đưa tin rất nhanh, tạo sự cạnh tranh lặng lẽ nhưng khốc liệt, từng giờ từng phút với báo chí. Vì vậy, thay đổi lớn nhất của nghề báo hiện nay là tốc độ sản xuất và phân phối tin tức phải nhanh hơn rất nhiều, quyết đoán hơn rất nhiều, so với cách làm báo truyền thống. Đã hết thời làm báo đủng đỉnh, chỉ đưa tin theo kiểu độc quyền. Do dự, chậm trễ là mất độc giả, mất tương tác.
Cái khó là nhà báo, cơ quan báo chí vừa phải chạy đua với mạng xã hội để đưa tin nhanh, nhưng đòi hỏi quy trình và năng lực kiểm chứng thông tin phải chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn.
Thứ hai, công nghệ truyền thông đã tạo nên cuộc cách mạng nền tảng trong nghề báo. Từ sản xuất thông tin đơn phương tiện, chuyển sang sản xuất và phân phối đa phương tiện; từ làm báo một nền tảng, một chiều sang làm báo - truyền thông đa nền tảng: báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình, video ngắn, podcast, livestream, báo chí dữ liệu, truyền thông mạng xã hội... Cơ quan báo chí nào cũng cần phát triển hệ sinh thái số của mình.
Thứ ba, nhà báo ngày nay đòi hỏi phải đa kĩ năng hơn trên nền kiến thức rộng và sử dụng công nghệ số có hiệu quả vào công việc chuyên môn. Không chỉ viết được tin, bài, nhà báo còn phải biết xử lý số liệu, khai thác và phân tích dữ liệu, kể chuyện bằng hình ảnh, tương tác với các nhóm công chúng khác nhau và cần phải hiểu hành vi độc giả, không chỉ với báo mình mà với báo chí nói chung.
ĐS&PL: Theo ông, đào tạo báo chí hiện nay cần đổi mới ra sao để nhà báo trẻ thích ứng với môi trường truyền thông đa nền tảng và áp lực tốc độ thông tin?
TS. Nhà báo Trần Bá Dung: Đây là vấn đề khó và luôn luôn có độ trễ nhất định. Nghĩa là đào tạo luôn đi sau thực tiễn nghề nghiệp, nhất là nghề nghiệp cho giới trẻ. Điều này không mới và không riêng ở Việt Nam. Vì vậy, nhận thức nó để đổi mới đào tạo cho phù hợp thực tiễn và bắt kịp, đón đầu xu hướng.
Để nhà báo trẻ thích ứng với môi trường truyền thông đa nền tảng và áp lực tốc độ thông tin nhanh, theo tôi, công tác đào tạo báo chí hiện nay cần đổi mới trên các bình diện:
Về nội dung đào tạo, cần chú trọng đào tạo năng lực số, kỹ năng số cho sinh viên ngành báo chí – truyền thông, cho các nhà báo trẻ. Bao gồm: sản xuất nội dung đa phương tiện, quay, chụp, dựng, biên tập hình ảnh, audio - video, làm podcast, sử dụng dữ liệu và công cụ AI vào công việc hằng ngày. Có như vậy mới thích ứng kịp với môi trường truyền thông đa nền tảng và áp lực tốc độ thông tin cao như hiện nay.
Về tư duy làm báo, cần rèn tư duy phản biện, năng lực kiểm chứng thông tin, tự chịu trách nhiệm, có bản lĩnh trước áp lực đưa tin ngay, và nhất định phải có đạo đức nghề nghiệp.
Về phương thức đào tạo, Nhà trường cần gắn chặt và thực chất hơn nữa giữa đào tạo với thực tiễn tòa soạn, cần tạo môi trường để sinh viên học thật, làm sản phẩm thật, xử lý tình huống thật, thay vì chỉ học lý thuyết và “cưỡi ngựa xem hoa” ở các tòa soạn. Dạy và học thông qua dự án truyền thông là tốt nhất, hiệu quả nhất.
TS. Nhà báo Trần Bá Dung trao đổi với PV Đời sống & Pháp luật về những tác động của chuyển đổi số đối với nghề báo, cũng như yêu cầu đổi mới công tác đào tạo nguồn nhân lực báo chí trong thời đại số.
ĐS&PL: Theo ông báo chí cần đóng vai trò như thế nào để vừa đồng hành cùng doanh nghiệp, vừa giữ được tính phản biện, khách quan?
TS. Nhà báo Trần Bá Dung: Đây là mối quan hệ tương hỗ, nghĩa là hai bên cùng hỗ trợ nhau. Nói theo cách ngày nay là quan hệ “Win – Win” (hai bên cùng thắng). Trong quan hệ này, báo chí cần và phải luôn giữ vai trò chủ động, không bị dẫn hướng dư luận, không bị chi phối, bị phụ thuộc doanh nghiệp.
Báo chí hỗ trợ doanh nghiệp thông qua việc phản ánh tình hính thực tế sản xuất, kinh doanh, những khó khăn, vướng mắc trong chính sách, đề đạt nguyện vọng, đề xuất của doanh nghiệp với chính quyền, chia sẻ với người dân. Báo chí là kênh hữu hiệu giúp lan tỏa mô hình kinh doanh có hiệu quả, có tác động tích cực với xã hội.
Báo chí đồng hành không có nghĩa là chỉ nói theo, nói hộ, mà vẫn phải luôn luôn có vị thế độc lập, kiểm chứng thông tin và phản biện, lên tiếng khi doanh nghiệp sai phạm. Việc đấu tranh chống tiêu cực ở các doanh nghiệp sai phạm như báo chí đã và đang làm, không làm mất đi hình ảnh, thương hiệu của các doanh nghiệp nói chung, mà chỉ làm trong sạch hơn môi trường sản xuất, kinh doanh, giữ niềm tin của công chúng, của khách hàng.
Trong quan hệ với doanh nghiệp, điều hết sức cần thiết và cũng là vấn đề khó trong công tác quản lý báo chí, là tách bạch rõ thông tin báo chí với thông tin quảng cáo, PR thương hiệu, để giúp độc giả - khách hàng không bị dẫn hướng thông tin, không bị đánh lừa trong nhận diện sản phẩm, nhận diện thương hiệu danh nghiệp.
ĐS&PL: Ông nhận xét như thế nào về vai trò của báo chí trong việc góp phần khơi thông chính sách, tạo niềm tin xã hội và lan tỏa các mô hình phát triển hiệu quả?
TS. Nhà báo Trần Bá Dung: Trong truyền thông chính sách, báo chí giữ vai trò cầu nối doanh nghiệp với Nhà nước, với chính quyền – nơi ban hành và thực thi các chính sách liên quan tới doanh nghiệp. cầu nối doanh nghiệp với khách hàng, với xã hội. Vai trò này thể hiện ở chỗ:
Báo chí là cầu nối doanh nghiệp với người dân, với cơ quan quản lý, giúp phát hiện các điểm nghẽn chính sách từ thực tiễn để khơi thông, tháo gỡ, các điểm mạnh của chính sách để phát huy.
Khác với mạng xã hội, báo chí có vai trò đặc biệt là góp phần tạo niềm tin xã hội trong công chúng, bằng nội dung thông tin chính thức, chính xác, cân bằng, có trách nhiệm và hướng đến giải pháp thiết thực. Vai trò này là không thể thay thế.
Một vai trò có tính nhân văn, tính giáo dục của báo chí là lan tỏa, nhân rộng những cách làm hay, những tâm gương sáng, những mô hình tốt, những nhân tố tích cực để xã hội học tập, sửa mình, làm theo và tiếp tục lan tỏa.
Theo TS. Nhà báo Trần Bá Dung, báo chí muốn giữ được niềm tin độc giả phải thích ứng nhanh, đổi mới tư duy làm nghề nhưng vẫn kiên định với giá trị cốt lõi là sự thật và trách nhiệm xã hội
ĐS&PL: AI đang được ứng dụng ngày càng nhiều, theo Tiến sĩ đây là cơ hội hay thách thức lớn hơn đối với người làm báo?
TS. Nhà báo Trần Bá Dung: Vấn đề này đã được nói trên nhiều diễn đàn, được viết trên nhiều trang báo, tạp chí, mạng xã hội. Khó đo lường được đây là cơ hội hơn hay thách thức hơn. Nhưng có thể thấy được khá rõ điều này qua từng khâu công việc của nghề báo.
Cơ hội lớn nhất là AI giúp nhà báo thu thập thông tin ban đầu, xử lý dữ liệu công khai, gợi ý tìm đề tài, tóm tắt tài liệu, dịch thuật nhiều ngôn ngữ, cá nhân hóa nội dung theo yêu cầu của nhà báo và tăng năng suất làm việc rõ rệt. Chưa kể còn giúp nhà báo tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí đi lại, xử lý thông tin,….
Thách thức lớn nhất AI đặt ra với nhà báo và với cơ quan báo chí, là làm gia tăng nội dung giả mạo, tin giả, sao chép nguyên xi, vi phạm bản quyền và nguy cơ lệ thuộc công nghệ. Một thực tế không thể phủ nhận là thuật toán đang chi phối cách làm báo của chúng ta, từ việc lựa chọn đề tài, nhân vật, sự kiến, chủ đề, cách thức sản xuất, tiêu chuẩn sản phẩm đến chiều theo thị hiếu độc giả và lựa chọn nền tảng để phân phối nội dung.
Điều quan trọng về nhận thức là, nhà báo không thể không dùng AI, nhưng nó chỉ là công cụ, phương tiện, chứ AI không thể là nhà báo, không bao giờ thay thế được nhà báo...Đặc biệt, nhà báo và cơ quan báo chí, nhất là đội ngũ biên tập viên, luôn luôn giữ vai trò thẩm định nguồn tin, kiểm chứng thông tin, phán đoán tình huống và cách xử lý. Hơn hết, nhà báo là chủ thể đạo đức và trách nhiệm xã hội trong việc đưa tin. AI không thể và không chịu trách nhiệm này.
ĐS&PL: Vậy theo ông, điều quan trọng nhất để báo chí chính thống giữ được niềm tin độc giả trong thời đại AI, nguy cơ tin giả và mạng xã hội bùng nổ?
TS. Nhà báo Trần Bá Dung: Sự thay đổi và phát triển của công nghệ số đang làm thay đổi mạnh mẽ cách hoạt động của các tòa soạn báo. Đây là sức ép rất lớn với báo chí hiện nay. Việc lạm dụng trí tuệ nhân tạo và các công cụ công nghệ đang trở thành vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm. Thuật toán dẫn hướng người đọc người xem và tạo áp lực lên người làm báo.
Trong môi trường truyền thông số, AI, tin giả và mạng xã hội đang bùng nổ, áp lực cập nhật thông tin nhanh đòi hỏi tòa soạn phải thay đổi cơ cấu tổ chức, cách thức điều hành để có thể cạnh tranh và sống sót.
Điều quan trọng nhất để báo chí chính thống giữ được niềm tin độc giả lúc này là giữ chuẩn mực sự thật – chuẩn mực cốt lõi của nghề báo mọi thời đại: thông tin phải chính xác, nguồn tin phải minh bạch, sai sót phải sửa sai công khai và kịp thời.
Mặt khác, báo chí chính thống chỉ có thể tồn tại và giữ được niềm tin độc giả, khi và chỉ khi tạo được sự khác biệt với mạng xã hội bằng chiều sâu thông tin, bối cảnh thông tin, năng lực phân tích và dự báo xã hội, trách nhiệm xã hội trong từng con chữ, bên cạnh việc rút tít thế nào cho hấp dẫn, đưa hình ảnh thế nào cho độc giả muôn xem, xem lâu, xem lại, mà không rẻ tiền, tầm thường. Điều đó phải học.
Chỉ khi báo chí đưa tin kịp thời, thiết thực, nhân văn, độc lập, có bản lĩnh và tư duy phản biện, đặt lợi ích công chúng lên trên lượt xem, lượt tương tác..., niềm tin của độc giả mới bền vững, mới thực chất.
ĐS&PL: Trân trọng cảm ơn ông!