Trường hợp nào bị thu hồi giấy phép lái xe
Theo khoản 5 Điều 62 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 118/2025/QH15 (có hiệu lực từ 1/7/2026), giấy phép lái xe bị thu hồi khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người được cấp giấy phép lái xe không đủ điều kiện sức khỏe theo kết luận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đối với từng hạng giấy phép lái xe;
b) Giấy phép lái xe cấp sai quy định hoặc người được cấp có hành vi gian dối để được cấp, đổi, cấp lại giấy phép lái xe;
c) Giấy phép lái xe đã quá thời hạn tạm giữ hoặc hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nếu người vi phạm không đến nhận mà không có lý do chính đáng.
Theo quy định mới nhất từ 1/7/2026, có một số trường hợp sẽ bị thu hồi giấy phép lái xe. Ảnh minh họa/Dân Trí
Điều 25 Thông tư số 108/2026/TT-BCA của Bộ Công an (có hiệu lực từ 1/7/2026) quy định rõ việc thu hồi giấy phép lái xe.
1. Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép lái xe thực hiện thu hồi theo trình tự sau:
a) Đối với giấy phép lái xe đã có trên hệ thống dữ liệu điện tử, trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày phát hiện người có giấy phép lái xe thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 62 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 118/2025/QH15, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông ra quyết định thu hồi để hủy bỏ giấy phép lái xe (nội dung của quyết định nêu rõ lý do thu hồi và hủy bỏ) và hủy bỏ việc tích hợp giấy phép lái xe điện tử trên ứng dụng định danh quốc gia hoặc các ứng dụng của lực lượng Công an nhân dân theo quy định; cá nhân không phải nộp lại giấy phép lái xe;
b) Đối với giấy phép lái xe không có trên hệ thống dữ liệu điện tử, trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày phát hiện người có giấy phép lái xe thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 62 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 118/2025/QH15, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông ra quyết định thu hồi để hủy bỏ giấy phép lái xe (nội dung của quyết định nêu rõ lý do thu hồi và hủy bỏ).
Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định thu hồi giấy phép lái xe, cá nhân phải nộp giấy phép lái xe bị thu hồi đến Phòng Cảnh sát giao thông. Phòng Cảnh sát giao thông có trách nhiệm tiếp nhận giấy phép lái xe bị thu hồi, hủy bỏ theo quy định và báo cáo Cục Cảnh sát giao thông.
2. Xử lý đối với trường hợp giấy phép lái xe bị thu hồi
a) Giấy phép lái xe bị thu hồi theo quy định tại điểm a, b khoản 5 Điều 62 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ; hồ sơ, trình tự thực hiện cấp lại giấy phép lái xe thực hiện theo quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 21 Thông tư này;
b) Giấy phép lái xe bị thu hồi theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều 62 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, cơ quan quản lý giấy phép lái xe cập nhật dữ liệu về hành vi vi phạm trên hệ thống thông tin giấy phép lái xe tại Cục Cảnh sát giao thông kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm; ngoài ra, người có hành vi vi phạm không được cấp giấy phép lái xe trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm; sau thời hạn 5 năm, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm nếu có nhu cầu cấp lại giấy phép lái xe phải học và sát hạch lại như trường hợp cấp giấy phép lái xe lần đầu.
4 trường hợp được đổi giấy phép lái xe
Theo Thông tư số 108/2026/TT-BCA của Bộ Công an, có 4 trường hợp được đổi giấy phép lái xe:
Người có giấy phép lái xe bị hỏng không còn sử dụng được;
Người Việt Nam, người nước ngoài đã có giấy phép lái xe do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp trước khi hết hạn, nếu có nhu cầu sẽ được đổi giấy phép lái xe;
Trường hợp ngày, tháng, năm sinh, họ tên, tên đệm hoặc quốc tịch ghi trên giấy phép lái xe có sai lệch với thông tin trên căn cước công dân, căn cước hoặc hộ chiếu, cơ quan có thẩm quyền sẽ thực hiện thủ tục đổi giấy phép mới phù hợp với giấy tờ cá nhân;
Người có nhu cầu tích hợp giấy phép lái xe không thời hạn với giấy phép lái xe có thời hạn cũng thuộc trường hợp được đổi.