Ảnh minh họa/ Theo báo Chính phủ.
Trên Cổng TTĐT Chính phủ, người dân hỏi:
Doanh nghiệp của tôi hoạt động trong lĩnh vực dược phẩm, có nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất thuốc chữa bệnh cho người. Hiện doanh nghiệp gặp vướng mắc do sự chưa thống nhất giữa các quy định liên quan đến thủ tục khai báo hóa chất nhập khẩu. Theo khoản 7 Điều 82 Nghị định số 163/2025/NĐ-CP (quy định chuyên ngành về Dược), nguyên liệu làm thuốc thuộc đối tượng được miễn khai báo hóa chất. Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 26/2026/NĐ-CP (về hóa chất) lại quy định các hóa chất thuộc Chương 28 và 29 bắt buộc phải khai báo trước khi thông quan. Đồng thời, Điều 3 Nghị định số 26/2026/NĐ-CP cũng phân công rõ Bộ Y tế chịu trách nhiệm quản lý hóa chất sử dụng trong bào chế dược phẩm cho người. Khi làm thủ tục thông quan, cơ quan hải quan yêu cầu doanh nghiệp tôi phải tuân theo Nghị định số 26/2026/NĐ-CP với lý do đây là văn bản ban hành sau. Điều này khiến doanh nghiệp rơi vào thế khó, bởi mặt hàng nguyên liệu dược phẩm vốn đã chịu sự kiểm soát chuyên ngành rất chặt chẽ từ Bộ Y tế. Tôi xin hỏi, nhập khẩu nguyên liệu làm thuốc theo Luật Dược và Nghị định số 163/2025/NĐ-CP có phải thực hiện khai báo hóa chất theo Nghị định số 26/2026/NĐ-CP hay không?".
Bộ Công Thương trả lời vấn đề này như sau:
Tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 26/2026/NĐ-CP ngày 17/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hóa chất về quản lý hoạt động hóa chất và hóa chất nguy hiểm trong sản phẩm, hàng hóa quy định:
"1. Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hóa chất thuộc các chương 28 và chương 29 của Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành phải có trách nhiệm thực hiện khai báo hóa chất nhập khẩu trước khi thông quan qua Cổng thông tin một cửa quốc gia".
Tại khoản 7 Điều 6 Nghị định số 26/2026/NĐ-CP quy định:
"7. Các trường hợp miễn trừ khai báo
a) Nhập khẩu hóa chất cần kiểm soát đặc biệt khi đã được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép nhập khẩu;
b) Nhập khẩu hóa chất cấm khi đã được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép nhập khẩu;
c) Nhập khẩu dưới 10 kg hóa chất thuộc khoản 1 Điều này;
d) Nhập khẩu dưới 01 kg hóa chất mới để thử nghiệm, đánh giá đặc tính hóa lý;
đ) Nhập khẩu hỗn hợp chất không thuộc các chương 28 và chương 29 của Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành có chứa hóa chất thuộc các chương 28 và chương 29".
Do đó, trường hợp công ty nhập khẩu hóa chất thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 26/2026/NĐ-CP mà không thuộc trường hợp miễn trừ quy định tại khoản 7 Điều 6 Nghị định số 26/2026/NĐ-CP thì cần phải thực hiện thủ tục khai báo hóa chất theo quy định.
Theo quy định tại Nghị định số 26/2026/NĐ-CP, thủ tục khai báo hóa chất được thực hiện hoàn toàn trên hệ thống Cổng thông tin một cửa quốc gia, thông tin khai báo được tự động chuyển đến hệ thống Cổng dịch vụ công của Bộ Công Thương, khi đó hệ thống của Bộ Công Thương sẽ tự động phản hồi qua Cổng thông tin một cửa quốc gia tới các tổ chức, cá nhân khai báo và cơ quan Hải quan.
Bộ Công Thương ghi nhận các ý kiến đóng góp của công ty. Hiện tại, Cục đang chủ trì xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định số 26/2026/NĐ-CP và sẽ cân nhắc đưa nội dung góp ý vào Dự thảo để tổng hợp, lấy ý kiến các Bộ, ngành liên quan.
Bộ Công Thương đề nghị công ty nghiên cứu các quy định nêu trên và các quy định pháp luật khác có liên quan để thực hiện theo quy định.