LTS: “Đến hẹn lại lên”, kỳ thi vào lớp 10 “nóng” và “áp lực hơn cả thi đại học” bởi ở tuổi 14-15, thứ các em gánh trên vai không chỉ là kiến thức mà còn là những bất cập trong bài toán trường lớp tại đô thị lớn chưa có lời giải thỏa đáng đã nhiều năm.
PV Đời sống và Pháp luật (ĐS&PL) thực hiện loạt bài: Kỳ thi vào lớp 10 năm 2026 - Giải pháp căn cơ “xóa sổ” áp lực “hơn thi đại học”, với góc nhìn thực tế thẳng thắn của phụ huynh, chuyên gia giáo dục và Đại biểu Quốc hội, gọi tên “điểm nghẽn” và tìm giải pháp căn cơ nâng cao chất lượng giáo dục, bảo đảm quyền được học tập của học sinh; hơn hết là giúp thí sinh lạc quan, với kỳ thi vào 10 và vững bước trên đường đời dù kết quả kỳ thi này có như thế nào.
Cho đến thời điểm bài viết này lên trang, kỳ thi vào lớp 10 công lập ở Hà Nội, TPHCM và nhiều địa phương đã kết thúc tốt đẹp. Nhưng câu chuyện áp lực của kỳ thi thì vẫn được nhiều người rất quan tâm.
Đã có ý kiến cho rằng nên xem xét bỏ kỳ thi vào lớp 10 và thay bằng xét tuyển để giảm bớt áp lực. Một số địa phương đang xem xét phương án đánh giá học sinh trong cả quá trình từ lớp 6 đến lớp 9, tuy nhiên vẫn cần nghiên cứu thận trọng và kỹ lưỡng trước khi triển khai.
Khi PV ĐSPL đề cập đến những giải pháp căn cơ nhằm xóa bỏ áp lực “thi vào lớp 10 căng thẳng hơn thi đại học”, ĐBQH Nguyễn Thị Sửu, Phó trưởng đoàn chuyên trách đoàn ĐBQH Thành phố Huế - một nữ đại biểu có nhiều tâm huyết với ngành giáo dục và những bài phát biểu xác đáng vì sự nghiệp giáo dục trên nghị trường Quốc hội khóa XV, XVI - đã rất trăn trở. Bà thẳng thắn nhìn nhận vấn đề khách quan và đưa ra góc nhìn sâu sắc, đáng suy ngẫm.
Ba thay đổi lớn để xóa bỏ áp lực niềm tin
ĐS&PL: Trong những giải pháp căn cơ xóa bỏ áp lực kỳ thi vào lớp 10, có ý kiến cho rằng không chỉ phụ huynh mà bản thân nhà quản lý giáo dục cần xóa bỏ tâm lý phân biệt công - tư. Quan điểm của bà thế nào? Làm sao để xóa bỏ một cách thực chất, không hình thức?
ĐBQH Nguyễn Thị Sửu: Tôi cho rằng đây là một nhận định rất đúng và rất trúng với thực trạng hiện nay.
Ngay tại Huế, dù không “nóng” như Hà Nội hay TP.HCM, nhưng áp lực thi vào lớp 10 công lập vẫn ngày càng rõ. Kỳ tuyển sinh lớp 10 năm học 2025-2026 tại thành phố Huế có hơn 12.000 thí sinh đăng ký dự thi; riêng Trường THPT chuyên Quốc Học - Huế đã có khoảng 1.470 học sinh đăng ký dự thi. Điều này cho thấy tâm lý cạnh tranh vào các trường công lập, đặc biệt là trường “top”, vẫn rất lớn. Nhiều gia đình vẫn coi trường công là lựa chọn tối ưu về chất lượng và chi phí, trong khi chưa thật sự đặt niềm tin tương đương vào khu vực ngoài công lập.
Đại biểu Nguyễn Thị Sửu - Phó trưởng đoàn chuyên trách đoàn ĐBQH Thành phố Huế.
Áp lực thi vào lớp 10 không đơn thuần là áp lực thi cử, mà sâu xa hơn là áp lực niềm tin. Phần đông phụ huynh hiện nay vẫn coi trường công lập là “vùng an toàn”, còn trường ngoài công lập là lựa chọn bất đắc dĩ. Điều đáng nói là tâm lý ấy không chỉ tồn tại trong xã hội, mà đôi khi còn tồn tại ngay trong tư duy quản lý giáo dục.
Ở Huế, thực tế nhiều trường tư thục vẫn gặp khó khăn trong tuyển sinh, một phần do tâm lý phụ huynh còn “nặng” trường công. Báo chí địa phương từng phản ánh tình trạng một số trường tư “thu không đủ chi”, nguyên nhân đến từ học phí cao hơn khả năng chi trả của nhiều gia đình và niềm tin xã hội đối với trường công vẫn lớn hơn.
Trong nhiều năm, chúng ta nói nhiều về xã hội hóa giáo dục, nhưng trên thực tế vẫn tồn tại sự phân tầng vô hình giữa công lập và tư thục: từ phân bổ nguồn lực; chất lượng đội ngũ; cơ chế tuyển sinh; đến cách xã hội nhìn nhận giá trị bằng cấp.
Muốn xóa bỏ điều này một cách thực chất, theo tôi phải bắt đầu từ ba thay đổi lớn.
Thứ nhất, phải chuyển tư duy quản lý từ “quản lý hệ thống công lập” sang “quản trị toàn bộ hệ sinh thái giáo dục”. Nhà nước không chỉ có trách nhiệm với trường công mà phải bảo đảm mọi học sinh, dù học ở loại hình nào, cũng được tiếp cận giáo dục có chất lượng.
Thứ hai, phải thu hẹp khoảng cách chất lượng giữa công và tư. Nếu phụ huynh vẫn thấy: trường công học phí thấp hơn nhiều, giáo viên ổn định hơn, cơ hội học tập tốt hơn, thì rất khó thay đổi tâm lý xã hội bằng tuyên truyền đơn thuần.
Thứ ba, cần minh bạch hóa các chuẩn chất lượng giáo dục thay vì chỉ đánh giá trường học bằng “mác công - tư” hay điểm đầu vào. Một ngôi trường tốt phải được nhìn nhận bằng: chất lượng dạy học; môi trường giáo dục; năng lực phát triển học sinh và mức độ hạnh phúc của người học.
Tôi cho rằng khi chất lượng thực sự được đặt làm trung tâm, sự phân biệt công - tư sẽ dần được thay thế bằng tư duy lựa chọn trường phù hợp với năng lực và nhu cầu của học sinh.
Thí sinh dự thi lớp 10 năm 2026 chia sẻ cùng phụ huynh (Ảnh: Bảo Quyên).
Một hiệu trưởng giỏi phải được trao quyền đủ lớn để đổi mới
ĐS&PL: Bà đánh giá thế nào về vai trò và tầm quan trọng của việc trao quyền tự chủ sâu rộng hơn cho các trường công lập gắn với trách nhiệm giải trình của hiệu trưởng trong xu thế nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay?
ĐBQH Nguyễn Thị Sửu: Tự chủ giáo dục là xu thế tất yếu nếu chúng ta muốn nâng cao chất lượng thực chất và tạo ra những ngôi trường năng động, sáng tạo.
Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh rằng: tự chủ không phải là “khoán trắng”, mà phải đi cùng trách nhiệm giải trình và cơ chế kiểm soát quyền lực.
Hiện nay, ở không ít nơi, các trường phổ thông còn bị ràng buộc bởi rất nhiều tầng nấc hành chính: thiếu quyền chủ động về nhân sự; hạn chế trong xây dựng chương trình bổ trợ; khó linh hoạt trong huy động nguồn lực xã hội; tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm.
Điều đó khiến nhiều hiệu trưởng chưa thực sự trở thành “nhà lãnh đạo giáo dục”, mà chủ yếu vẫn làm công tác hành chính.
Theo tôi, cần mạnh dạn trao quyền cho nhà trường ở ba nhóm vấn đề: quyền tổ chức hoạt động giáo dục; quyền sử dụng nguồn lực; quyền xây dựng môi trường phát triển đặc thù của trường.
Nhưng song song với đó phải có cơ chế giải trình rõ ràng: công khai chất lượng giáo dục; công khai tài chính; công khai các khoản thu; chịu đánh giá định kỳ từ phụ huynh, xã hội và cơ quan quản lý.
Một hiệu trưởng giỏi phải được trao quyền đủ lớn để đổi mới, nhưng cũng phải chịu trách nhiệm tương xứng về chất lượng đầu ra và đạo đức quản trị nhà trường.
Tôi cho rằng nếu làm tốt tự chủ trường học, chúng ta sẽ giảm được tình trạng đồng phục hóa giáo dục, đồng thời tạo ra nhiều mô hình trường học chất lượng để phụ huynh có thêm lựa chọn, từ đó góp phần giảm áp lực dồn vào một số trường công lập “top đầu”.
Thực tế ở Huế cho thấy nhiều cơ sở giáo dục ngoài công lập hoặc mô hình giáo dục mới như Trường Tiểu học, THCS và THPT FPT Huế đang cố gắng tạo khác biệt bằng đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ và tăng tính trải nghiệm cho học sinh. Điều đó cho thấy khi được trao quyền tự chủ và có định hướng phát triển rõ ràng, nhà trường có thể tạo ra giá trị riêng thay vì chỉ phụ thuộc vào “thương hiệu công lập”.
Nhiều thí sinh đã hoàn thành kỳ thi vào lớp 10 và hồi hộp chờ đợi kết quả. Ảnh minh họa
Yêu cầu công khai cam kết chất lượng
ĐS&PL: Hiện nay, vấn đề điều tiết học phí đối với hệ thống trường tư thục, đặc biệt tại các địa bàn đang thiếu trường công, đảm bảo các trường hoạt động vì người học chứ không chạy theo lợi nhuận thuần túy dường như vẫn còn những khoảng hở. Quan điểm của bà thế nào?
ĐBQH Nguyễn Thị Sửu: Đây là vấn đề rất cần được nhìn nhận thẳng thắn.
Chúng ta khuyến khích xã hội hóa giáo dục là đúng, nhưng giáo dục không thể bị thương mại hóa đơn thuần.
Ở nhiều đô thị lớn hiện nay, khi nguồn cung trường công chưa đáp ứng đủ nhu cầu, phụ huynh gần như không có nhiều lựa chọn khác ngoài trường tư. Trong bối cảnh đó, nếu thiếu cơ chế điều tiết phù hợp thì rất dễ xuất hiện: học phí tăng cao; lạm thu dưới nhiều hình thức; chạy theo cơ sở vật chất hào nhoáng hơn là chất lượng giáo dục thực chất.
Điều này khiến một bộ phận phụ huynh cảm thấy trường ngoài công lập là gánh nặng tài chính hơn là một lựa chọn giáo dục tích cực.
Theo tôi, cần xác lập rất rõ quan điểm: giáo dục có thể xã hội hóa, nhưng không thể phó mặc hoàn toàn cho thị trường. Nhà nước cần hoàn thiện hành lang pháp lý theo hướng: minh bạch cấu thành học phí; kiểm soát các khoản thu ngoài học phí; tăng cường thanh tra tài chính giáo dục; yêu cầu công khai cam kết chất lượng.
Đặc biệt, tại những địa bàn thiếu trường công nghiêm trọng, chính quyền địa phương phải có trách nhiệm điều tiết để bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục của người dân, không để phụ huynh rơi vào tình trạng “bị ép lựa chọn”.
Tôi cũng cho rằng cần phát triển mạnh mô hình trường tư thục phi lợi nhuận, bởi đây là xu hướng rất tiến bộ của nhiều nền giáo dục hiện đại: lấy người học làm trung tâm; tái đầu tư cho chất lượng; giảm áp lực thương mại hóa giáo dục.
Tư duy quy hoạch và trách nhiệm quản trị địa phương
ĐS&PL: Ở một số địa phương vì sao nhiều doanh nghiệp xin đất làm doanh nghiệp thường dễ hơn người làm giáo dục xin đất mở trường? Vấn đề đất và tiền để mở trường để giúp giảm áp lực thi cử vào THPT công lập thì trách nhiệm của chính quyền địa phương ra sao?
ĐBQH Nguyễn Thị Sửu: Đây thực sự là một vấn đề rất đáng suy nghĩ.
Chúng ta đều nói giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhưng ở nhiều nơi, quỹ đất dành cho giáo dục lại thường bị “lép vế” trong cạnh tranh với các mục tiêu phát triển kinh tế ngắn hạn.
Một thực tế là khu đô thị phát triển rất nhanh, dân số cơ học tăng mạnh, nhưng trường học phát triển không theo kịp. Hệ quả là thiếu trường công, sĩ số tăng, áp lực tuyển sinh ngày càng lớn.
Theo tôi, nguyên nhân cốt lõi nằm ở tư duy quy hoạch và trách nhiệm quản trị địa phương. Nếu chính quyền địa phương coi trường học là hạ tầng thiết yếu ngang với giao thông, điện, nước thì quỹ đất cho giáo dục sẽ phải được ưu tiên từ đầu, chứ không phải “còn đâu bố trí đó”.
Tôi cho rằng trách nhiệm của địa phương thể hiện ở ba khía cạnh rất rõ:
Thứ nhất, trách nhiệm quy hoạch. Khi phê duyệt các khu đô thị, phải đồng thời tính toán đầy đủ: trường học; nhà trẻ; hạ tầng giáo dục theo quy mô dân số. Không thể để tình trạng dân vào ở rồi mới lo đi tìm đất xây trường.
Thứ hai, trách nhiệm tạo cơ chế thu hút đầu tư giáo dục. Người làm giáo dục hiện nay gặp rất nhiều khó khăn: giá đất cao; thủ tục kéo dài; tiếp cận tín dụng khó khăn. Trong khi giáo dục là lĩnh vực đầu tư dài hạn, lợi nhuận không thể nhanh như bất động sản hay thương mại.
Nếu chúng ta thật sự muốn giảm áp lực cho trường công thì phải có: quỹ đất sạch cho giáo dục; ưu đãi tín dụng; chính sách thuê đất dài hạn; cơ chế khuyến khích mở trường chất lượng.
Thứ ba, trách nhiệm bảo đảm công bằng giáo dục. Chính quyền địa phương song song với việc tập trung vào tăng trưởng kinh tế là đừng bỏ quên quyền học tập của người dân. Tôi cho rằng nhìn vào áp lực thi lớp 10 hiện nay, chúng ta không chỉ thấy câu chuyện thi cử, mà còn thấy cả bài toán quy hoạch đô thị, phân bổ nguồn lực và trách nhiệm quản trị phát triển con người trong dài hạn.
Tóm lại, theo tôi, muốn giảm áp lực thi vào lớp 10 một cách căn cơ thì không thể chỉ điều chỉnh kỹ thuật tuyển sinh hay tăng vài nghìn chỉ tiêu mỗi năm. Cần một cuộc cải cách đồng bộ: từ tư duy quản lý giáo dục; phát triển hệ thống trường học; nâng cao chất lượng ngoài công lập; đến quy hoạch đô thị và phân bổ nguồn lực công.
Quan trọng hơn cả là phải chuyển từ tư duy “chọn lọc học sinh” sang tư duy “bảo đảm mọi học sinh đều có cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng phù hợp với năng lực của mình”.
Đó mới là giải pháp bền vững để giảm áp lực thi cử và xây dựng một nền giáo dục nhân văn, phát triển lâu dài.
ĐS&PL: Trân trọng cảm ơn bà!
Mời quý độc giả đón đọc tiếp Giải pháp căn cơ xóa bỏ áp lực “thi vào lớp 10 căng thẳng hơn thi đại học” - Bài 8: Giải pháp căn cơ xóa bỏ áp lực “thi vào lớp 10 căng thẳng hơn thi đại học” - Bài 8: Những kỳ thi khai phá tiềm năng của người học
Thi vào lớp 10 áp lực “hơn thi đại học”- Bài 1: Những con số cân não
Thi vào 10 áp lực “hơn thi đại học” - Bài 2: Cần sửa từ “gốc” thay vì chỉ “chỉnh ngọn”