Ngày 5/5, Công an TP Đà Nẵng cho biết Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an TP vừa tống đạt các quyết định khởi tố bị can, thi hành lệnh bắt tạm giam đối với Hồ Thị Xuân Lài (SN 1996, trú xã Tam Xuân) để điều tra về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Báo Người lao động dẫn kết quả điều tra, từ tháng 4/2022, thông qua mối quan hệ quen biết, bà H. (trú xã Núi Thành) nhiều lần cho Lài vay tiền để thực hiện dịch vụ "đáo hạn ngân hàng". Thời gian đầu, các giao dịch được thực hiện đúng cam kết, tạo dựng lòng tin với bị hại.
Đến ngày 12/9/2022, Lài đưa ra thông tin gian dối về việc có khách cần đáo hạn số tiền 1,5 tỷ đồng, đề nghị bà H. chuyển tiền để thực hiện. Tin tưởng, bà H. đã chuyển hơn 1,12 tỷ đồng cho Lài. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền, Lài không sử dụng đúng mục đích mà đem trả nợ.
Hồ Thị Xuân Lài bị bắt tạm giam. Ảnh: Lao động
Sau đó, dù đã hoàn trả một phần tiền, Lài tiếp tục viện nhiều lý do như hồ sơ gặp vướng mắc, mất khả năng thanh toán. Sau đó, đối tượng tuyên bố vỡ nợ và rời khỏi địa phương. Khi phát hiện dấu hiệu bất thường, bị hại gửi đơn tố cáo đến cơ quan công an.
Quá trình xác minh cho thấy tổng số tiền giao dịch giữa hai bên lên đến hơn 36 tỷ đồng. Phần lớn đã được hoàn trả, song số tiền bị chiếm đoạt vẫn ở mức khoảng 1,5 tỉ đồng, theo báo Lao động.
Sau thời gian rời khỏi địa phương, Lài đã ra đầu thú và thừa nhận hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản.
Hiện cơ quan điều tra đang tiếp tục làm rõ các tình tiết liên quan, củng cố hồ sơ để xử lý theo quy định pháp luật.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Như vậy, phạm tội thuộc khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị phạt phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; phạm tội thuộc khoản 2 Điều này thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm; phạm tội thuộc khoản 3 Điều này thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm; phạm tội thuộc khoản 4 Điều này thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.