Chia sẻ tại Hội thảo “Vật liệu xây dựng xanh, xu thế phát triển bền vững” do Báo Xây dựng tổ chức mới đây, Thứ trưởng Bộ Xây Dựng Nguyễn Văn Sinh cho biết, thực tế cho thấy, khung chính sách bước đầu đã tạo lực đẩy cho thị trường. Các chiến lược lớn của Chính phủ về tăng trưởng xanh và phát triển vật liệu xây dựng đã định hình rõ hướng đi theo hướng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải, nâng cao hiệu quả năng lượng.
Nhờ đó, thị trường đã ghi nhận những chuyển động rõ nét. Các dòng vật liệu xây không nung như gạch xi măng cốt liệu, bê tông khí chưng áp, bê tông bọt… phát triển nhanh với khoảng 2.900 cơ sở sản xuất trên cả nước, tổng công suất thiết kế đạt khoảng 12,4 tỷ viên quy tiêu chuẩn mỗi năm. Riêng năm 2025, sản lượng đạt trên 7,2 tỷ viên, tiêu thụ khoảng 6,7 tỷ viên,... những con số cho thấy xu hướng dịch chuyển đang dần hình thành.
Thứ trưởng Bộ Xây Dựng Nguyễn Văn Sinh
Không chỉ góp phần giảm khai thác đất sét, tiết kiệm tài nguyên, các vật liệu này còn giúp cắt giảm tiêu hao nhiên liệu hóa thạch, đồng thời tận dụng hiệu quả tro, xỉ, thạch cao từ công nghiệp, một bước tiến quan trọng hướng tới kinh tế tuần hoàn.
Song song đó, nhiều sản phẩm vật liệu hoàn thiện, bao che công trình tiết kiệm năng lượng cũng được đưa vào ứng dụng, tiêu biểu như kính Low-E, kính Solar Control giúp hạn chế bức xạ nhiệt, giảm tải tiêu thụ năng lượng cho công trình. Một số doanh nghiệp đã chủ động tiếp cận các tiêu chuẩn xanh, chứng nhận môi trường quốc tế, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh.
Những kết quả nêu trên cho thấy, phát triển vật liệu xây dựng xanh, tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường không còn là định hướng mang tính khuyến khích đơn thuần, mà đã từng bước đi vào thực tiễn sản xuất và thị trường.
Dù vậy, Thứ trưởng Bộ Xây Dựng cũng thẳng thắn thừa nhận bức tranh chuyển đổi chưa hoàn toàn “màu xanh”, quá trình chuyển đổi xanh của ngành vật liệu xây dựng vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn, vướng mắc. Chi phí đầu tư công nghệ còn cao, sức ép cạnh tranh lớn trong khi thói quen tiêu dùng vật liệu truyền thống vẫn phổ biến khiến thị trường hấp thụ vật liệu xanh chưa như kỳ vọng. Bên cạnh đó, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn cho vật liệu mới chưa đồng bộ; cơ chế ưu đãi, đặc biệt là tiếp cận tín dụng xanh, vẫn là điểm nghẽn với nhiều doanh nghiệp.
Thứ trưởng Nguyễn Văn Sinh nhấn mạnh “điều thị trường cần lúc này không chỉ là những nỗ lực đơn lẻ của từng doanh nghiệp, mà là một khung thể chế mới đủ sức dẫn dắt đầu tư, định hướng tiêu dùng và sàng lọc công nghệ mới, sản phẩm mới để nâng cao năng lực cạnh tranh, mang lại lợi ích cho Nhà nước, doanh nghiệp, người dân”.
Trong bối cảnh thúc đẩy phát triển vật liệu xây dựng xanh, theo ông Trần Bá Việt, Phó Chủ tịch Hội Bê tông Việt Nam, vấn đề cốt lõi hiện nay không chỉ nằm ở định hướng, mà là cách thức triển khai sao cho thực chất và khả thi.
Ông Việt cho rằng, để làm được điều này, đầu tiên là cần bắt đầu từ việc xây dựng và ban hành hệ thống quy chuẩn rõ ràng. Bởi lẽ, quy chuẩn chính là nền tảng để “thiết kế” các quy định tiếp theo. Khi chưa có khung tiêu chuẩn cụ thể, việc triển khai các chính sách hỗ trợ hay yêu cầu kỹ thuật sẽ thiếu cơ sở và khó đi vào thực tiễn.
Ông Trần Bá Việt, Phó Chủ tịch Hội Bê tông Việt Nam.
Các quy định của Nghị định quản lý Vật liệu xây dựng thay thế Nghị định số 09/2021/NĐ-CP phải được cụ thể hóa ngay từ khâu thiết kế. Thiết kế phải là điểm xuất phát, từ thiết kế sản phẩm, thiết kế công nghệ đến thiết kế công trình, để có thể lượng hóa rõ ràng: mỗi m² công trình tiết kiệm được bao nhiêu năng lượng, bao nhiêu chi phí.
“Cần trả lời được những câu hỏi cụ thể như: mỗi mét vuông công trình tiết kiệm bao nhiêu năng lượng, giảm bao nhiêu chi phí. Nếu không có các con số định lượng, việc triển khai sẽ rất khó khăn”, ông Việt nhấn mạnh.
Thực tế hiện nay, nhiều quy định về tiết kiệm năng lượng vẫn dừng ở mức khuyến khích, chưa mang tính bắt buộc. Điều này khiến vật liệu xanh chưa thực sự có “chỗ đứng” vững chắc trên thị trường. Do đó, theo ông Việt, cần xây dựng lộ trình áp dụng rõ ràng, từng bước chuyển từ khuyến khích sang bắt buộc, phù hợp với điều kiện thực tế.
Một điểm đáng lưu ý khác là cách tiếp cận chính sách cần có sự thay đổi. Thay vì chỉ tập trung vào phía sản xuất, cần chú trọng đến phía tiêu dùng, nơi quyết định cuối cùng thuộc về các chủ đầu tư. Khi chưa nhìn thấy hiệu quả kinh tế cụ thể, họ khó có động lực lựa chọn vật liệu xanh.
Vì vậy, các yêu cầu về sử dụng vật liệu thân thiện môi trường cần được tích hợp ngay từ khâu thiết kế công trình, đặc biệt là thiết kế kết cấu, khu vực sử dụng nhiều xi măng, bê tông và cũng là “điểm nóng” về chi phí và phát thải.
Theo ông Việt, lĩnh vực vật liệu xây dựng hiện chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức tiêu thụ năng lượng và phát thải của nền kinh tế. Nếu không tạo được tác động thực chất vào khu vực này, các nỗ lực chuyển đổi xanh sẽ khó đạt hiệu quả như kỳ vọng.
Bên cạnh đó, ông cũng kiến nghị cần sớm tổng hợp các ý kiến từ hội thảo để xây dựng báo cáo chính thức, trình lãnh đạo Bộ Xây dựng xem xét, chỉ đạo trong thời gian ngắn, khoảng 10 ngày, nhằm bảo đảm tiến độ hoàn thiện chính sách.
Có thể thấy, để vật liệu xanh thực sự đi vào đời sống, không thể chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hay “gắn nhãn”, mà cần một hệ thống quy chuẩn, tiêu chí định lượng rõ ràng, cùng cơ chế đủ mạnh để dẫn dắt thị trường. Khi bài toán kinh tế được giải, vật liệu xanh mới có thể trở thành lựa chọn tự nhiên của các chủ đầu tư.
Ông Lê Quang Hùng, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng, Chủ tịch Hội Bê tông Việt Nam
Cùng quan điểm về vấn đề này, ông Lê Quang Hùng, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng, Chủ tịch Hội Bê tông Việt Nam cũng cho rằng cần có sự rà soát và định hướng một cách cụ thể, đồng bộ để thúc đẩy phát triển vật liệu xây dựng xanh.
Theo đó, Trước hết cần làm rõ các khái niệm và xây dựng hệ thống mã định danh thống nhất cho vật liệu xanh, đặc biệt trong bối cảnh đang xây dựng các chính sách liên quan như Nghị định quản lý vật liệu xây dựng thay thế Nghị định số 09/2021/NĐ-CP. Việc chuẩn hóa các khái niệm sẽ giúp tránh chồng chéo, tạo nền tảng cho quản lý và triển khai hiệu quả.
Tiếp theo, cần tiến hành chuẩn hóa các loại vật liệu xanh, đi kèm với hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật rõ ràng. Bởi hiện nay, việc dán nhãn vật liệu xanh do nhiều tổ chức thực hiện với tiêu chí chưa thống nhất, dẫn đến thiếu đồng bộ và gây khó khăn cho thị trường. Vì vậy, cần xây dựng một bộ tiêu chí chung, minh bạch, xác định rõ thế nào là “xanh” và cách thức đánh giá, kiểm chứng các tiêu chí đó.
Bên cạnh đó, để vật liệu xanh thực sự đi vào cuộc sống, cần có các cơ chế, chính sách hỗ trợ cụ thể từ Nhà nước, như ưu tiên sử dụng trong các công trình đầu tư công, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế để hoàn thiện khung chính sách phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Ngoài ra, việc giảm giá thành sản phẩm, tăng cường truyền thông để người dân và doanh nghiệp hiểu rõ lợi ích, cũng như xây dựng các cơ chế triển khai hài hòa là rất cần.
Cùng trao đổi về vấn đề này, PGS. TS Văn Viết Thiên Ân, Trưởng khoa Vật liệu xây dựng, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội cho biết, Việt Nam đang đối mặt với lượng chất thải rắn xây dựng gia tăng nhanh chóng, chiếm khoảng 10 - 12% tổng chất thải đô thị (khoảng 60.000 tấn/ngày), thậm chí lên đến 20 - 25% tại các đô thị lớn.
Khối lượng chất thải rắn xây dựng tăng từ 1,9 triệu tấn (năm 2010) lên khoảng 9,6 triệu tấn (năm 2025). Thành phần chủ yếu gồm bê tông, gạch, vữa, đất và bùn thải (70 - 90%), cho thấy tiềm năng lớn trong tái chế và tái sử dụng làm vật liệu xây dựng.
PGS. TS Văn Viết Thiên Ân, Trưởng khoa Vật liệu xây dựng, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
Việc tận dụng phế thải phá dỡ công trình là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm phát thải và thúc đẩy phát triển bền vững. Tuy nhiên, quá trình này vẫn gặp nhiều rào cản như chất lượng vật liệu tái chế chưa ổn định, việc phân loại tại nguồn còn hạn chế, kéo theo chi phí xử lý và vận chuyển ở mức cao.
Bên cạnh đó, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật chưa đồng bộ, trong khi thị trường vẫn còn tâm lý e ngại, ưu tiên vật liệu truyền thống. Công nghệ sản xuất cũng chưa theo kịp yêu cầu, còn thiếu các cơ chế hỗ trợ kinh tế đủ mạnh để khuyến khích doanh nghiệp tham gia.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu giảm phát thải ngày càng cấp bách, phát triển vật liệu xây dựng xanh được xác định là xu thế tất yếu. Để thúc đẩy lĩnh vực này, theo PGS.TS Văn Viết Thiên Ân, cần sớm hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn; đồng thời ban hành các chính sách ưu đãi cụ thể như thuế, quy định tỷ lệ sử dụng vật liệu tái chế trong công trình.
Cùng với đó, việc áp dụng các công cụ kinh tế như thuế tài nguyên, thuế carbon cũng cần được tính toán nhằm hạn chế dần vật liệu truyền thống, tạo “đòn bẩy” cho vật liệu xanh phát triển.
Ở góc độ quản lý, Nhà nước cần tăng cường giám sát thực thi, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư công nghệ, đồng thời xây dựng hệ thống phân loại chất thải tại nguồn và phát triển chuỗi cung ứng vật liệu tái chế. Việc thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, tăng cường hợp tác công tư và nâng cao nhận thức xã hội cũng là những yếu tố then chốt.
Đáng chú ý, một số hướng đi mới đang mở ra triển vọng cho ngành. Trong đó, việc sử dụng vật liệu thay thế như cát nhiễm mặn kết hợp tro bay, nước mặn và cốt sợi GFRP trong các công trình ven biển được đánh giá là giải pháp hiệu quả, vừa giảm khai thác cát tự nhiên, vừa tận dụng phế thải công nghiệp.
Song song, việc phát triển gạch không nung thay thế gạch đất sét nung tiếp tục được thúc đẩy, góp phần giảm phát thải, tiết kiệm tài nguyên và phù hợp với định hướng tăng trưởng xanh của ngành Xây dựng.
Có thể thấy, chất thải rắn xây dựng không chỉ là gánh nặng môi trường, mà còn là “mỏ tài nguyên” nếu được quản lý và khai thác hiệu quả. Vấn đề còn lại nằm ở việc hoàn thiện thể chế, công nghệ và thị trường để biến tiềm năng này thành giá trị thực tiễn.