Mới đây, ông Nguyễn Viết Xuân (Quảng Trị) gửi vấn đề mong được giải đáp trên Cổng TTĐT Chính phủ với nội dung:
Ông Nguyễn Viết Xuân là chủ sử dụng thửa đất diện tích 133 m², nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền với đất ở, được tách thửa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2005.
Năm 2011, ông Xuân xây dựng nhà cấp 4 trên thửa đất này và sinh sống ổn định, liên tục cho đến nay.
Gần đây, do bị mất Giấy chứng nhận, ông đã làm thủ tục xin cấp lại. Trong quá trình giải quyết hồ sơ, nhận thấy thửa đất đủ điều kiện chuyển mục đích sử dụng sang đất ở, cơ quan có thẩm quyền đã hướng dẫn và cho phép ông thực hiện thủ tục chuyển đổi. Trước đó, UBND cấp xã đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sử dụng đất của ông, và ông đã chấp hành, nộp đầy đủ tiền phạt theo quy định.
Qua tìm hiểu, ông được biết Nghị quyết số 254/2025/QH15 có quy định về chính sách giảm tiền sử dụng đất đối với một số trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất.
Ông Xuân hỏi, trường hợp của ông khi chuyển mục đích sử dụng 133 m² đất sang đất ở có thuộc đối tượng được áp dụng chính sách giảm tiền sử dụng đất theo Nghị quyết số 254/2025/QH15 hay không?
Việc chuyển mục đích sử dụng đất xuất phát từ nhu cầu cá nhân (không thuộc trường hợp Nhà nước chủ động thu hồi hoặc giao đất) thì có thuộc diện được hưởng chính sách giảm tiền sử dụng đất theo Nghị quyết này hay không?
Việc ông đã xây dựng nhà ở từ năm 2011 và từng bị xử phạt vi phạm hành chính (nhưng đã chấp hành nộp phạt đầy đủ) có ảnh hưởng đến điều kiện được áp dụng chính sách giảm tiền sử dụng đất hay không?
Bộ Tài chính đã có hướng dẫn về các trường hợp được áp dụng mức thu tiền sử dụng đất theo Nghị quyết 254. (Ảnh: AI)
Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
Tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai (Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026) quy định:
"Điều 10. Miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất khi chuyển mục đích sử dụng đất
… 2. Khi chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và g khoản 1 Điều 121 của Luật Đất đai thì người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định sau đây:
… c) Trường hợp đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở được xác định khi công nhận quyền sử dụng đất mà chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở; chuyển từ đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất hoặc do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng sang đất ở thì tính tiền sử dụng đất theo mức thu bằng: 30% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở và tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (sau đây gọi tắt là chênh lệch) đối với diện tích đất chuyển mục đích sử dụng trong hạn mức giao đất ở tại địa phương; 50% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức nhưng không quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương; 100% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức mà vượt quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương. Mức thu tiền sử dụng đất nêu trên chỉ được tính một lần cho một hộ gia đình, cá nhân (tính trên 01 thửa đất)".
Tại Điều 6 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31/1/2026 của Chính phủ đã quy định cụ thể về việc tính tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp sang đất ở quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15.
Đồng thời, Bộ Tài chính đã có Công văn số 7713/BTC-QLCS gửi Thuế các tỉnh, thành phố (tại nơi nhận có UBND, Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố) hướng dẫn cụ thể về phạm vi, đối tượng áp dụng của điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Điều 6 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP về việc tính tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp sang đất ở; theo đó, các trường hợp được áp dụng quy định về mức thu tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 bao gồm:
Đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở được xác định khi công nhận quyền sử dụng đất;
Đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất;
Đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng.
Theo quy định tại Điều 44, Điều 48 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 17 Điều 1 Nghị định số 291/2025/NĐ-CP ngày 6/11/2025, khoản 21, khoản 22 Điều 13 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31/1/2026) của Chính phủ thì UBND các cấp và các cơ quan chức năng của tỉnh Quảng Trị có trách nhiệm:
Cơ quan có chức năng quản lý đất đai, văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm xác định địa điểm, vị trí, diện tích, loại đất, mục đích sử dụng đất, thời điểm tính tiền sử dụng đất;
Cơ quan thuế căn cứ quy định và Phiếu chuyển thông tin do cơ quan có chức năng quản lý đất đai và các cơ quan khác chuyển đến, thực hiện tính tiền sử dụng đất, số tiền sử dụng đất được miễn, giảm và thông báo cho người sử dụng đất.
Trên đây Bộ Tài chính thông tin về chính sách, chế độ, đề nghị ông Nguyễn Viết Xuân căn cứ hồ sơ cụ thể, liên hệ với cơ quan chức năng tại địa phương để được xử lý theo đúng quy định của pháp luật và chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm được giao.