Ngày 26/10, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Công an tổ chức Hội nghị Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp khu vực miền Bắc với sự tham dự của hơn 450 đại biểu đại diện các cơ quan Trung ương, bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, hợp tác xã, chuyên gia, nhà khoa học và các tổ chức trong nước, quốc tế.
Hội nghị do Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng và Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an đồng chủ trì.
Phát biểu khai mạc hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh, trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến, khó lường, cạnh tranh thương mại ngày càng gay gắt, các tiêu chuẩn xanh và yêu cầu về truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe, cùng diễn biến bất thường của thiên tai và biến đổi khí hậu, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã nỗ lực duy trì đà tăng trưởng tích cực, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Nhiều tiến bộ về giống, công nghệ sinh học, cơ giới hóa, bảo quản, chế biến và truy xuất nguồn gốc đã được ứng dụng, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng phát biểu khai mạc Hội nghị. Ảnh: Khương Trung
Ông Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh, bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao sức cạnh tranh đòi hỏi ngành nông nghiệp và môi trường phải chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực then chốt để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng, theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Theo Bộ trưởng, khu vực phía Bắc có nhiều lợi thế về hệ thống viện nghiên cứu, trường đại học, đội ngũ chuyên gia và doanh nghiệp công nghệ. Tuy nhiên, việc gắn kết giữa nghiên cứu và sản xuất còn rời rạc, chưa phát huy hiệu quả các nguồn lực khoa học công nghệ.
Tại Hội nghị, các đại biểu tập trung đánh giá thực trạng, dư địa tăng trưởng của ngành Nông nghiệp, nhận diện những điểm nghẽn trong các vùng sản xuất và chuỗi giá trị nông sản, từ đó đề xuất nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng, tạo động lực tăng trưởng trong giai đoạn 2026 - 2030.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giai đoạn 2021 - 2025, toàn ngành Nông nghiệp và Môi trường đã chủ trì, phối hợp triển khai 1.373 nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Qua đó, 225 giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản và lâm nghiệp mới được công nhận, đưa vào sản xuất; 150 tiến bộ kỹ thuật được ban hành; 158 bằng độc quyền sáng chế và giải pháp hữu ích được cấp.
Đáng chú ý, ngành bước đầu xác định được 19 sản phẩm cơ bản đáp ứng tiêu chí sản phẩm công nghệ chiến lược. Hơn 2.000 mô hình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp tuần hoàn và giảm phát thải được triển khai tại thực địa, góp phần giảm chi phí đầu vào, nâng cao thu nhập cho người sản xuất. Hiệu quả kinh tế tại các mô hình được ghi nhận tăng khoảng 10-30%.
Trong lĩnh vực chuyển đổi số, toàn ngành đã hoàn thành xây dựng và từng bước vận hành 25 cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin chuyên ngành, đồng thời kết nối, liên thông trực tiếp với 12 cơ sở dữ liệu quốc gia. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, thúc đẩy ứng dụng công nghệ và đổi mới phương thức tổ chức sản xuất.
HTX chè Hảo Đạt (tỉnh Thái Nguyên) là một trong những đơn vị tiên phong tham gia hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản, giúp số hóa thông tin vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất và hành trình sản phẩm để người tiêu dùng dễ dàng kiểm tra minh bạch qua nền tảng công nghệ số
Tại miền Bắc, nhiều kết quả nghiên cứu đã giải quyết các yêu cầu thực tiễn như phát triển bộ giống lúa thuần chất lượng cao, chịu rét; giống ngô sinh khối và công nghệ sản xuất vắc-xin thú y phòng, chống dịch tả lợn châu Phi.
Với hệ thống viện nghiên cứu, trường đại học, nguồn nhân lực khoa học và công nghệ cùng nguồn gen bản địa phong phú, miền Bắc có nhiều lợi thế để phát triển giống mới, nâng cao chất lượng nông sản và hình thành các chuỗi ngành hàng có giá trị gia tăng cao. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới không chỉ là gia tăng số lượng đề tài, công trình nghiên cứu hay sản phẩm công nghệ, mà quan trọng hơn là khả năng ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa, tạo ra giá trị cụ thể cho sản xuất và đời sống.
Giai đoạn 2026 - 2030, ngành Nông nghiệp và Môi trường định hướng đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng theo hướng hiện đại, xanh, sinh thái, phát thải thấp, tuần hoàn và dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ.
Theo đó, động lực tăng trưởng cần từng bước chuyển từ mở rộng quy mô sản xuất, khai thác tài nguyên sang nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sử dụng nguồn lực và giá trị gia tăng.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải chuyển trọng tâm từ số lượng nhiệm vụ, sản phẩm nghiên cứu sang hiệu quả ứng dụng, khả năng thương mại hóa và giá trị thực tế tạo ra cho sản xuất. Mỗi nhiệm vụ khoa học, công nghệ cần xuất phát từ nhu cầu của ngành, địa phương hoặc doanh nghiệp; xác định rõ sản phẩm đầu ra, đơn vị tiếp nhận, phương án ứng dụng, khả năng nhân rộng và tác động dự kiến đối với năng suất, chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm, thu nhập của người dân và sức cạnh tranh của nông sản.
Trong giai đoạn này, ngành đặt mục tiêu nâng tỷ trọng đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế lên trên 55%. Nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước phấn đấu đạt 30-35% tổng nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có khả năng ứng dụng, thương mại hóa, nhân rộng.
Đồng thời, ít nhất 60% kết quả nghiên cứu được ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa hoặc phục vụ công tác quản lý nhà nước. Ngành cũng định hướng hình thành tối thiểu 5 trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo hoặc thử nghiệm, trình diễn công nghệ gắn với vùng sinh thái và chuỗi giá trị.
Ít nhất 50 doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ trong các hoạt động về sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, truy xuất nguồn gốc, xúc tiến thương mại và kết nối viện, trường với doanh nghiệp.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, ngành Nông nghiệp và Môi trường xác định ba hướng đột phá trọng tâm, gồm nghiên cứu và làm chủ công nghệ chiến lược; đổi mới sáng tạo, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; chuyển đổi số và quản trị dựa trên dữ liệu.
Thứ nhất, đột phá về nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ chiến lược. Ngành ưu tiên công nghệ sinh học, gồm công nghệ gen, công nghệ tế bào trong phát triển giống thế hệ mới, vắc-xin thú y và chế phẩm sinh học; đồng thời đẩy mạnh nông nghiệp chính xác, quản lý phát thải, quan trắc thông minh, dự báo thiên tai, quản lý tài nguyên và kinh tế tuần hoàn.
Đối với miền Bắc, hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cần gắn với lợi thế của từng vùng sinh thái. Khu vực trung du, miền núi được định hướng phát triển chè, cây ăn quả, dược liệu, đại gia súc và rừng gỗ lớn. Đồng bằng sông Hồng tập trung vào nông nghiệp công nghệ cao, lúa gạo chất lượng cao phát thải thấp và sản xuất giống. Trong khi đó, khu vực Bắc Trung Bộ ưu tiên phát triển giống, quy trình canh tác thích ứng với hạn hán, xâm nhập mặn; chăn nuôi an toàn sinh học và nuôi trồng thủy sản thích ứng với thiên tai.
Sở hữu nguồn tài nguyên dược liệu phong phú cùng lợi thế đặc biệt về khí hậu và bản sắc văn hóa, Lào Cai đang từng bước biến “mỏ vàng xanh” thành động lực tăng trưởng mới
Thứ hai, đột phá về đổi mới sáng tạo, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Ngành định hướng đổi mới cơ chế đặt hàng, tuyển chọn và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ theo hướng tăng cường sự tham gia, đồng tài trợ và cam kết tiếp nhận kết quả của doanh nghiệp, hợp tác xã, địa phương.
Mô hình liên kết “3 Nhà”, gồm Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp, cần được thúc đẩy xuyên suốt từ khâu đề xuất, thẩm định, phê duyệt đến tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Cùng với đó là phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, thử nghiệm và trình diễn công nghệ; tháo gỡ vướng mắc về tài chính, sở hữu trí tuệ, định giá và chuyển giao công nghệ. Mục tiêu là bảo đảm mỗi nhiệm vụ khoa học, công nghệ đều có địa chỉ ứng dụng, đơn vị tiếp nhận và khả năng tạo ra giá trị kinh tế - xã hội cụ thể, hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải, kết quả nghiên cứu chậm đi vào thực tiễn.
Thứ ba, đột phá về chuyển đổi số và quản trị dựa trên dữ liệu. Ngành tập trung hoàn thiện hạ tầng, cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin chuyên ngành; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ quản lý, dự báo và tổ chức sản xuất. Các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, viễn thám và truy xuất nguồn gốc được định hướng ứng dụng rộng rãi trong quản lý vùng nguyên liệu, chất lượng sản phẩm, phát thải và tài nguyên.
Tại miền Bắc, ưu tiên truy xuất nguồn gốc đối với những chuỗi giá trị chủ lực như gỗ rừng trồng, chè, quả đặc sản, lúa gạo chất lượng cao phát thải thấp và thủy sản. Đồng thời, phát triển logistics nông sản công nghệ cao nhằm giảm chi phí, hạn chế tổn thất sau thu hoạch và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm.
Theo kế hoạch triển khai, trong năm 2026, ngành Nông nghiệp và Môi trường dự kiến hoàn thành việc tuyển chọn, giao nhiệm vụ đối với các nhiệm vụ công nghệ chiến lược trong lĩnh vực nông nghiệp; chuẩn hóa danh mục 187 nhiệm vụ khoa học và công nghệ mở mới năm 2027 theo định hướng bảo đảm 100% nhiệm vụ có doanh nghiệp cam kết ứng dụng, tiếp nhận kết quả. Cùng với đó, ngành sẽ hoàn thiện kiến trúc tổng thể và quy chế chia sẻ dữ liệu thuộc Không gian dữ liệu số ngành Nông nghiệp và Môi trường.
Trong giai đoạn 2027 - 2030, các nhiệm vụ trọng tâm gồm triển khai truy xuất nguồn gốc số đối với những chuỗi sản phẩm ưu tiên, phát triển các trung tâm logistics nông sản công nghệ cao và tổ chức đánh giá giữa kỳ việc thực hiện đề án chuyển đổi số vào năm 2028. Kết quả đánh giá sẽ là cơ sở để điều chỉnh nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế triển khai và nhân rộng những mô hình, giải pháp hiệu quả.
Để các đột phá phát huy hiệu quả, ngành xác định cần triển khai đồng bộ các giải pháp, lấy hiệu quả thực tiễn làm trung tâm, liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp làm động lực, nguồn nhân lực và thể chế làm nền tảng. Trong đó, địa phương và doanh nghiệp cần phát huy vai trò chủ động trong xác định bài toán thực tiễn; trách nhiệm, nguồn lực, tiến độ và tiêu chí đánh giá phải được làm rõ đối với từng nhiệm vụ.
Thước đo thành công của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số không chỉ nằm ở số lượng công trình nghiên cứu hay mức độ ứng dụng công nghệ, mà quan trọng hơn là giá trị thực chất tạo ra cho sản xuất, thể hiện qua năng suất, chất lượng, hiệu quả, thu nhập của người dân và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.