Khi chứng chỉ trở thành điểm cộng
Dự thảo thông tư sửa đổi quy định tuyển sinh đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo dự kiến bỏ điểm cộng cho thành tích, IELTS, chứng chỉ quốc tế trong xét tuyển đại học từ năm 2027. Việc này đặt ra vấn đề về quyền lợi của thí sinh đã chuẩn bị theo quy định hiện hành. Theo Bộ GD&ĐT, điều chỉnh này nhằm đưa thí sinh dự tuyển cùng một ngành về chung một thang đánh giá, bảo đảm công bằng và minh bạch hơn trong tuyển sinh.
Những năm gần đây, chứng chỉ ngoại ngữ, đặc biệt là IELTS, ngày càng xuất hiện phổ biến trong phương án tuyển sinh của các trường đại học. Không chỉ được sử dụng để thay thế điểm môn ngoại ngữ hoặc chứng minh năng lực đầu vào, tại một số trường, chứng chỉ còn được quy đổi thành điểm cộng vào tổng điểm xét tuyển.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ trong tuyển sinh cần được đặt đúng vị trí của nó.
Theo ông Thảo, cách hiểu cho rằng dự thảo “bỏ IELTS” hoặc “không còn xét chứng chỉ ngoại ngữ” là không chính xác. Dự thảo không loại bỏ chứng chỉ ngoại ngữ khỏi tuyển sinh và cũng không phủ nhận thành tích học sinh giỏi.
Chứng chỉ ngoại ngữ vẫn có thể được sử dụng để quy đổi, thay thế điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển theo quy tắc công khai; chứng minh yêu cầu ngoại ngữ đầu vào của chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài; hoặc được xem xét công nhận học phần, chuẩn đầu ra theo quy định.
Tương tự, thí sinh đoạt giải học sinh giỏi quốc gia, quốc tế vẫn được xét tuyển thẳng nếu đáp ứng các điều kiện của Quy chế. Từ năm 2027, xét tuyển thẳng cũng không tính vào giới hạn ba phương thức tuyển sinh của mỗi ngành.
Điểm thay đổi nằm ở việc các cơ sở đào tạo sẽ không còn tự cộng thêm điểm ngoài thang đánh giá chính đối với chứng chỉ, thành tích hoặc các tiêu chí bổ sung.
Theo ông Thảo, nguyên tắc đặt ra là một năng lực phải được đánh giá đúng vị trí, ghi nhận một lần và theo cùng quy tắc đối với mọi thí sinh dự tuyển vào cùng một ngành. Vấn đề trở nên rõ hơn khi đặt trong từng phương thức xét tuyển cụ thể.
"Nếu ngoại ngữ là năng lực đầu vào cần thiết, cơ sở đào tạo phải đưa ngoại ngữ thành một hợp phần chính thức của phương thức xét tuyển. Khi đó, thí sinh có thể sử dụng điểm thi hoặc chứng chỉ được quy đổi tương đương.
Ngược lại, nếu một ngành chỉ xét Toán, Vật lý và Hóa học, việc cộng thêm điểm vì thí sinh có chứng chỉ tiếng Anh sẽ đưa một tiêu chí không thuộc yêu cầu đầu vào vào quá trình xét tuyển. Khi đó, điểm cộng có thể làm thay đổi thứ tự giữa những thí sinh có điểm chuyên môn khác nhau", ông Thảo cho hay.
Ví dụ minh họa chênh lệch điểm của 184 thí sinh sử dụng chứng chỉ quốc tế để được cộng điểm vào một ngành chỉ sử dụng một tổ hợp không có môn ngoại ngữ. Ảnh: Bộ GD&ĐT
Một năng lực, hai lần ghi nhận
Một bất cập khác được đặt ra là trường hợp tổ hợp xét tuyển đã có môn tiếng Anh nhưng chứng chỉ tiếng Anh tiếp tục được dùng để cộng điểm.
Theo phân tích của Vụ Giáo dục Đại học, khi đó năng lực ngoại ngữ vừa được phản ánh trong điểm tổ hợp, vừa tạo thêm lợi thế ngoài thang đo. Một năng lực được ghi nhận hai lần có thể làm thay đổi thứ tự xét tuyển, đặc biệt tại những ngành có điểm chuẩn cao, nơi chênh lệch nhỏ cũng có thể quyết định kết quả trúng tuyển.
Dữ liệu tuyển sinh năm 2026 cho thấy hơn 37.300 thí sinh sử dụng chứng chỉ tiếng Anh để được cộng điểm, trong đó trên 35.900 thí sinh sử dụng IELTS.
IELTS 6.0 là mức phổ biến nhất, với 8.318 thí sinh, nhưng được các trường quy định thành 26 mức điểm cộng khác nhau. Sự khác biệt trong cách quy đổi, cộng điểm giữa các cơ sở đào tạo vì thế trở thành một trong những vấn đề được đặt ra trong quá trình hoàn thiện quy chế tuyển sinh.
Ở nhóm ngành thuộc tốp 5% điểm chuẩn cao, với ngưỡng tham chiếu 26,09/30, hơn 30% người nhập học có điểm cộng. Trong khi đó, tỷ lệ này ở nhóm ngoài tốp 25% là 9,51%.
Đáng chú ý, trong ba phương thức không có cấu phần ngoại ngữ riêng gồm xét điểm thi tốt nghiệp THPT, xét học bạ và kết hợp hai kết quả, 51,42% thí sinh có điểm cộng có điểm gốc thấp hơn mức trúng tuyển của ngành.
Các số liệu trên không cho phép xác định từng cặp thí sinh cụ thể bị thay thế bởi điểm cộng. Tuy nhiên, theo Bộ GD&ĐT, những dữ liệu này cho thấy điểm cộng có thể trở thành yếu tố quyết định kết quả tại các ngành có mức độ cạnh tranh cao.
Theo ông Nguyễn Tiến Thảo, công bằng trong tuyển sinh không phải là chia đều lợi thế giữa các thí sinh, mà là bảo đảm những người cùng dự tuyển vào một ngành được đánh giá bằng cùng tiêu chí.
Từ năm 2023, Bộ GD&ĐT đã yêu cầu quy đổi tương đương nhằm giảm chênh lệch giữa các phương thức tuyển sinh. Đến năm 2026, điểm cộng tiếp tục được khống chế tối đa ở mức 10% tổng điểm xét tuyển.
Tuy nhiên, khi mỗi trường tự quy đổi và tự xác định mức điểm cộng, sự khác biệt vẫn còn lớn. Vì vậy, việc đề xuất không còn điểm cộng được xác định là bước tiếp theo trong lộ trình kiểm soát và chuẩn hóa tuyển sinh, thay vì một thay đổi đột ngột về định hướng.
Hai tình huống được đặt ra rõ nhất là việc ngành không yêu cầu ngoại ngữ nhưng thí sinh có chứng chỉ tiếng Anh vẫn được cộng điểm; hoặc tổ hợp đã có môn tiếng Anh nhưng chứng chỉ tiếng Anh tiếp tục tạo thêm điểm ngoài tổ hợp.
Trong trường hợp thứ nhất, với ngành chỉ xét Toán, Vật lý và Hóa học, thí sinh có điểm ba môn cao hơn vẫn có thể trượt trước người có điểm chuyên môn thấp hơn nhưng được cộng thêm điểm từ chứng chỉ.
Ở trường hợp thứ hai, khi tổ hợp đã có tiếng Anh, năng lực ngoại ngữ đã được phản ánh trong điểm xét tuyển. Việc tiếp tục cộng thêm điểm chứng chỉ có thể tạo ra lợi thế thứ hai cho cùng một năng lực.
Theo quan điểm được ông Thảo nêu ra, quyền sử dụng chứng chỉ của một thí sinh không thể làm mất quyền được đánh giá công bằng của thí sinh khác.
Ví dụ minh họa chênh lệch điểm của 362 thí sinh sử dụng chứng chỉ quốc tế để được cộng điểm vào một ngành sử dụng tổ hợp Toán - Văn - Anh (D01). Đường nét đứt thể hiện điểm tổ hợp D01; đường nét liền thể hiện tổng điểm xét tuyển sau khi cộng điểm năm 2026. Ảnh: Bộ GD&ĐT
Học ngoại ngữ vẫn có giá trị
Đề xuất không cộng điểm cũng đặt ra băn khoăn đối với những học sinh đã dành nhiều thời gian, công sức và chi phí để học ngoại ngữ, đặc biệt là những em sử dụng IELTS trong kế hoạch xét tuyển đại học.
Theo ông Nguyễn Tiến Thảo, quyền sử dụng chứng chỉ để chứng minh năng lực ngoại ngữ không bị mất đi và giá trị của việc học tiếng Anh cũng không thay đổi.
Nếu ngành đào tạo cần ngoại ngữ, chứng chỉ vẫn có thể được quy đổi để thay thế môn ngoại ngữ trong phương thức xét tuyển. Với những chương trình giảng dạy bằng ngoại ngữ có yêu cầu đầu vào, chứng chỉ vẫn được sử dụng để xác nhận thí sinh đáp ứng yêu cầu. Vấn đề được đặt ra là mục đích của việc học ngoại ngữ.
Theo ông Thảo, không nên đồng nhất việc “không được cộng điểm” với việc “học ngoại ngữ không còn giá trị”. Nếu chứng chỉ chủ yếu được theo đuổi để tạo lợi thế điểm số, việc học có thể chuyển từ phát triển năng lực giao tiếp, học tập và làm việc sang luyện thi để đạt một mốc điểm.
Trong khi đó, mục tiêu của việc học ngoại ngữ cần hướng tới khả năng sử dụng thực tế, phục vụ quá trình học tập và công việc lâu dài.
Một trong những nguyên tắc được đặt ra trong dự thảo là năng lực nào cần thiết cho ngành học thì phải được đánh giá trực tiếp, minh bạch và bình đẳng; năng lực không thuộc yêu cầu đầu vào không nên trở thành điểm cộng làm thay đổi thứ tự thí sinh.
Theo thống kê được đưa ra, nhiều ngành có điểm chuẩn khoảng 28 nhưng cho phép cộng tới 1,5 điểm. Điều này đồng nghĩa với việc thí sinh đạt 26,5-28 điểm có thể đứng trước hoặc sau những thí sinh có điểm gốc khác nhau tùy thuộc vào việc có chứng chỉ được cộng điểm hay không.
Đối với những thí sinh không có điều kiện tham gia các kỳ thi chứng chỉ có chi phí cao, sự khác biệt này đặt ra câu hỏi về mức độ bình đẳng trong cạnh tranh tuyển sinh.
Tự chủ tuyển sinh vì vậy không chỉ đi cùng quyền quyết định phương án xét tuyển, mà còn gắn với trách nhiệm giải trình về tiêu chí được sử dụng và cách thức các tiêu chí đó tác động đến kết quả.
Ông Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ảnh: Bộ GD&ĐT
Dự thảo sửa đổi Quy chế tuyển sinh không loại bỏ chứng chỉ ngoại ngữ, cũng không làm mất giá trị của thành tích học sinh giỏi. Điểm được điều chỉnh là cách những năng lực, thành tích này được đưa vào thang đánh giá.
Khi một năng lực là yêu cầu đầu vào của ngành, năng lực đó cần được đánh giá bằng tiêu chí chính thức. Khi chứng chỉ đã được dùng để thay thế hoặc quy đổi một thành phần trong tổ hợp, việc tiếp tục cộng điểm cần được xem xét để tránh ghi nhận trùng lặp.
Mục tiêu cuối cùng của việc điều chỉnh là đưa các thí sinh cùng dự tuyển vào một ngành về cùng một nguyên tắc đánh giá, qua đó hướng tới một phương thức tuyển sinh minh bạch, thực chất và có thể kiểm chứng.