Đóng

Xuất nhập khẩu vượt 1.000 tỷ USD: Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Nguyễn Anh Sơn nói về bài toán nâng tầm hàng Việt

  • Thu Dương (t/h)
(DS&PL) -

Theo ông Nguyễn Anh Sơn, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa vượt mốc 1.000 tỷ USD là một dấu mốc quan trọng, thể hiện quy mô và mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam vào thương mại quốc tế.

Vượt mốc 1.000 tỷ USD là kết quả tổng hòa của nhiều yếu tố

Theo số liệu sơ bộ của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong 10 tháng năm 2026 đạt 1.010,55 tỷ USD, tăng 32,3% so với cùng kỳ năm trước, chính thức vượt mốc 1.000 tỷ USD.

Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 499,24 tỷ USD, tăng 27,5%, động lực chính đến từ nhóm hàng công nghiệp chế biến với 452,74 tỷ USD, chiếm 90,7%. Cùng với đó, kim ngạch nhập khẩu đạt 511,31 tỷ USD, tăng 37,4%, chủ yếu đến từ nhóm hàng tư liệu sản xuất với 481,03 tỷ USD, chiếm 94,1%.

Đánh giá về dấu mốc này, theo VTV.Vn, ông Nguyễn Anh Sơn - Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho rằng, việc tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa vượt 1.000 tỷ USD là kết quả có ý nghĩa quan trọng, thể hiện quy mô và mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam vào thương mại quốc tế.

Ông Nguyễn Anh Sơn - Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương)./ Ảnh: VTV.Vn.

Theo ông Sơn, kết quả trên là sự tổng hòa của nhiều yếu tố, trước hết là sự phục hồi và duy trì đà tăng trưởng của sản xuất trong nước, đặc biệt ở các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo - nhóm ngành giữ vai trò chủ lực trong hoạt động xuất khẩu.

Bên cạnh đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong các ngành hàng xuất khẩu chủ lực như điện tử, máy móc, thiết bị, dệt may, da giày. Qua đó, góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu và đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.

Một động lực khác đến từ việc khai thác các hiệp định thương mại tự do (FTA), đồng thời mở rộng và đa dạng hóa thị trường. Ngoài những thị trường truyền thống, doanh nghiệp Việt Nam ngày càng quan tâm đến các khu vực còn nhiều tiềm năng như Trung Đông, Nam Á, châu Phi và Mỹ Latinh.

Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu cũng đề cao sự chủ động, linh hoạt của cộng đồng doanh nghiệp trong việc thích ứng với những biến động thương mại toàn cầu, từ thay đổi nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn kỹ thuật đến yêu cầu chuyển đổi xanh và điều chỉnh chính sách thương mại của các nước.

Cũng theo ông Nguyễn Anh Sơn, những kết quả trên, bên cạnh nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp còn có sự đồng hành và triển khai đồng bộ các giải pháp của Chính phủ, bộ, ngành. Trong đó, Bộ Công Thương giữ vai trò nòng cốt trong việc phát triển thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.

Nâng tầm doanh nghiệp Việt, phát triển nhanh gắn liền với bền vững

Trả lời trên Báo Công Thương, ông Nguyễn Anh Sơn cho rằng, trong thời gian qua, Bộ Công Thương đã tập trung triển khai một số nhóm giải pháp trọng tâm.

Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục tập trung vào một số định hướng lớn. Trong đó, tiếp tục đa dạng hóa thị trường, ngành hàng xuất khẩu, giảm mức độ phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống và khai thác tốt hơn các thị trường mới. Nâng cao hơn nữa hiệu quả tận dụng các FTA, chuyển từ việc khai thác ưu đãi thuế quan đơn thuần sang tận dụng toàn diện các cơ hội về đầu tư, chuỗi cung ứng và hợp tác kinh tế.

Bộ Công Thương hướng dẫn doanh nghiệp tận dụng ưu đãi thuế quan, quy tắc xuất xứ. Ảnh: Báo Công Thương.

Thêm nữa, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế về chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật, phát triển bền vững và chuyển đổi xanh. Thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước, công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa để gia tăng giá trị Việt Nam trong hoạt động xuất nhập khẩu.

Ông Sơn cũng thẳng thắn chỉ ra rằng, năng lực của doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong việc tham gia vào các chuỗi cung ứng toàn cầu còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về quy mô sản xuất, tiêu chuẩn kỹ thuật, quản trị chất lượng, khả năng đổi mới công nghệ cũng như tính ổn định của nguồn cung.

Bên cạnh đó, sự liên kết giữa khu vực doanh nghiệp trong nước và khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chưa đạt được như kỳ vọng.

Để giải quyết những vấn đề này, theo ông Sơn cần tập trung vào một số nhóm giải pháp.

Trước hết, tiếp tục phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, nhất là trong các ngành có tiềm năng tạo ra giá trị gia tăng lớn như điện tử, bán dẫn, cơ khí chính xác, thiết bị điện và công nghiệp chế biến.

Thứ hai, nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam thông qua hỗ trợ đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản trị, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Thứ ba, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam từng bước trở thành nhà cung cấp trong chuỗi sản xuất toàn cầu, thay vì chỉ tham gia ở các công đoạn có giá trị gia tăng thấp.

Thứ tư, trong thu hút đầu tư nước ngoài, cần tiếp tục định hướng các dự án có hàm lượng công nghệ cao, có cam kết phát triển hệ sinh thái cung ứng trong nước và có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa đối với nền kinh tế.

Về lâu dài, mục tiêu không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, mà quan trọng hơn là nâng cao hàm lượng giá trị Việt Nam trong mỗi sản phẩm xuất khẩu, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong thương mại quốc tế.

Để duy trì đà tăng trưởng xuất nhập khẩu, đa dạng hóa thị trường, chủ động nguồn cung nguyên liệu và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trong thời gian tới, ông Sơn nhấn mạnh: "Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Việt Nam cần khai thác tốt hơn các thị trường truyền thống, đồng thời mở rộng sang các khu vực còn nhiều tiềm năng như Trung Đông, Nam Á, châu Phi, Mỹ Latinh. Việc đa dạng hóa thị trường sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro khi thị trường quốc tế có biến động.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả tận dụng các hiệp định thương mại tự do. Sau giai đoạn mở rộng mạng lưới FTA, yêu cầu đặt ra hiện nay là chuyển sang giai đoạn khai thác chiều sâu, giúp doanh nghiệp không chỉ tận dụng ưu đãi thuế quan mà còn tiếp cận tốt hơn các chuỗi cung ứng, dòng vốn đầu tư và cơ hội hợp tác kinh doanh từ các thị trường đối tác.

Thứ ba, nâng cao năng lực sản xuất trong nước, đặc biệt là phát triển công nghiệp hỗ trợ và chủ động nguồn cung nguyên liệu đầu vào. Đây là yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhằm giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu, nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các biến động bên ngoài và gia tăng giá trị nội địa trong hàng xuất khẩu.

Thứ tư, hỗ trợ doanh nghiệp thích ứng với những yêu cầu mới của thương mại quốc tế. Các thị trường ngày càng quan tâm nhiều hơn đến tiêu chuẩn chất lượng, phát triển bền vững, chuyển đổi xanh, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm trong chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động nâng cao năng lực để đáp ứng các yêu cầu này, thay vì chỉ cạnh tranh dựa trên chi phí".

Tin nổi bật