Theo đó, Đại học Duy Tân là đại diện của Việt Nam có thứ hạng cao nhất, đứng thứ 504 thế giới. Tuy nhiên, trường giảm 22 bậc so với vị trí 482 của bảng xếp hạng năm 2026.
Đại học Quốc gia Hà Nội cải thiện thứ hạng khi tăng từ nhóm 761-770 lên nhóm 751-760. Trong khi đó, Đại học Bách khoa Hà Nội cũng có bước tiến đáng chú ý, tăng từ nhóm 1201-1400 lên nhóm 1001-1200.
Đại học Quốc gia TP.HCM và Trường Đại học Tôn Đức Thắng cùng được xếp ở nhóm 801-850. Trong khi Đại học Quốc gia TP.HCM giữ nguyên nhóm xếp hạng so với năm trước thì Trường Đại học Tôn Đức Thắng giảm từ vị trí 684 xuống nhóm 801-850.
Nhóm 1.001-1.200 còn có Đại học Văn Lang, giữ nguyên thứ hạng so với năm 2026.
Ba cơ sở được xếp vào nhóm 1.401+ gồm Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM (IUH) và Trường Đại học Công nghệ TP.HCM (HUTECH).
Trong đó, Đại học Cần Thơ và Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM đều giảm từ nhóm 1.201-1.400 xuống nhóm 1.401+, còn HUTECH lần đầu xuất hiện trong bảng xếp hạng đại học thế giới của QS. Trước đó, trường từng lần đầu góp mặt tại QS Asia University Rankings 2026 (bảng xếp hạng đại học hàng đầu Châu Á) và có ba lĩnh vực đào tạo được xếp hạng trong QS World University Rankings by Subject 2026 (bảng xếp hạng đại học theo ngành/lĩnh vực đào tạo).
Thứ hạng đại học Việt Nam năm 2027. Ảnh: VietNamnet
Như vậy, số cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam được xếp hạng trong QS World University Rankings 2027 giảm còn 9 trường so với 10 trường trong bảng xếp hạng năm 2026. Có 3 trường cải thiện thứ hạng, 2 trường giữ nguyên vị trí, 3 trường giảm hạng và 1 trường lần đầu có mặt trong bảng xếp hạng.
Xét chung trên toàn thế giới, Mỹ là quốc gia có nhiều trường được xếp hạng nhất với 184 trường. Đây là năm thứ 15 liên tiếp Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) của Mỹ duy trì vị trí đầu bảng. Xếp sau đó là Đại học Hoàng gia London, Đại học Stanford, Đại học Oxford và Đại học Harvard.
Bảng xếp hạng QS 2027 xếp hạng hơn 1.500 đại học đến từ các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới dựa trên 9 tiêu chí, gồm: Danh tiếng học thuật, Uy tín tuyển dụng, Tỷ lệ cán bộ khoa học/người học, Số trích dẫn/cán bộ khoa học, Tỷ lệ cán bộ khoa học quốc tế, Tỷ lệ người học quốc tế, Mạng lưới nghiên cứu quốc tế, Tỷ lệ có việc làm của người học tốt nghiệp, Phát triển bền vững.