Ung thư vú có xu hướng trẻ hóa
Theo GLOBOCAN năm 2024, Việt Nam ghi nhận 25.711 ca mắc mới ung thư vú, cao nhất trong các loại ung thư. Trên toàn cầu, ung thư vú là loại ung thư được chẩn đoán nhiều nhất ở nữ giới, với khoảng 2,4 triệu ca mắc mới trong năm 2024.
Chia sẻ bên lề Hội nghị “Những xu hướng mới trong chẩn đoán và điều trị ung thư vú”, PGS.TS.BS. Nguyễn Thị Minh Phương, Trưởng Khoa Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc, cho biết số ca mắc ung thư nói chung có xu hướng gia tăng, trong đó ung thư vú cũng ghi nhận số trường hợp mắc ngày càng nhiều và có biểu hiện trẻ hóa về độ tuổi.
Tuy nhiên, số ca bệnh được phát hiện gia tăng không chỉ phản ánh xu hướng mắc bệnh mà còn liên quan đến sự phát triển của các phương pháp tầm soát, chẩn đoán sớm và ý thức chủ động kiểm tra sức khỏe của người dân.
"Chuyên ngành ung bướu nói chung và điều trị ung thư vú nói riêng đang chứng kiến nhiều bước tiến quan trọng. Cùng với sự phát triển của công nghệ sinh học phân tử và những thành tựu trong giải mã hệ gen, ung thư vú ngày càng được nhìn nhận là một nhóm bệnh có đặc điểm sinh học đa dạng, thay vì một bệnh lý đồng nhất có thể áp dụng cùng một công thức điều trị.
Điều trị cá thể hóa đang trở thành một trong những xu hướng quan trọng trong điều trị ung thư vú hiện nay. Đây là cách xây dựng chiến lược can thiệp dựa trên đặc tính sinh học của khối u, thể trạng, bệnh nền và các yếu tố riêng của từng người bệnh.
Mục tiêu không chỉ là kiểm soát khối u mà còn hạn chế những can thiệp không cần thiết, giảm độc tính, gánh nặng điều trị và chi phí, đồng thời bảo tồn sức khỏe và chất lượng cuộc sống cho người bệnh", PGS Phương đánh giá.
PGS.TS.BS. Nguyễn Thị Minh Phương, Trưởng Khoa Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc. Ảnh: Lê Liên
Theo PGS.TS.BS. Nguyễn Thị Minh Phương, việc đánh giá toàn diện giúp bác sĩ phân nhóm bệnh nhân chính xác hơn, từ đó lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Cách tiếp cận này cũng góp phần hạn chế tình trạng điều trị quá mức hoặc bỏ qua những yếu tố có thể ảnh hưởng đến nguy cơ tái phát.
Một trong những thay đổi rõ nét của điều trị ung thư vú hiện nay là việc không còn mặc định bệnh nhân cùng giai đoạn sẽ được điều trị giống nhau.
Theo chuyên gia, ngay cả khi cùng ở một giai đoạn bệnh, nếu đặc điểm sinh học của khối u khác nhau, phương án điều trị cũng có thể hoàn toàn khác biệt.
Sau phẫu thuật, chẳng hạn, có bệnh nhân cần tiếp tục hóa trị bổ trợ nhằm tiêu diệt những tế bào ung thư còn sót lại ở mức vi thể. Nhưng cũng có những trường hợp không cần hóa trị bổ trợ nếu đánh giá cho thấy lợi ích của phương pháp này không đáng kể.
Các xét nghiệm phân tử, trong đó có Oncotype DX, có thể cung cấp thêm thông tin giúp bác sĩ đánh giá nguy cơ tái phát và khả năng người bệnh hưởng lợi từ hóa trị bổ trợ ở một số nhóm ung thư vú nhất định.
Việc có thêm dữ liệu về đặc điểm sinh học của khối u giúp bác sĩ cân nhắc kỹ hơn trước khi chỉ định hóa trị. Với những trường hợp không có lợi ích đáng kể từ hóa trị, người bệnh có thể tránh được các độc tính và tác dụng phụ liên quan đến phương pháp điều trị này.
Đồng quan điểm, tại hội nghị, PGS.TS.Đỗ Anh Tú, Chánh Văn phòng Hội Ung thư Việt Nam, Phó Giám đốc Bệnh viện K cho biết, ung thư vú ngày nay đang được tiếp cận theo hướng cá thể hóa, ứng dụng y học chính xác và phối hợp đa mô thức.
Những tiến bộ trong chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh, sinh học phân tử, phẫu thuật, điều trị nội tiết, điều trị đích và điều trị miễn dịch đã và đang làm thay đổi căn bản chiến lược điều trị, mang lại cơ hội sống lâu hơn và chất lượng sống tốt hơn cho người bệnh. Hội nghị hôm nay là dịp để chúng ta cập nhật những kiến thức mới, từ đó từng bước ứng dụng vào thực hành chẩn đoán và điều trị ung thư vú tại Việt Nam.
PGS.TS.Đỗ Anh Tú, Chánh Văn phòng Hội Ung thư Việt Nam, Phó Giám đốc Bệnh viện K. Ảnh: BV Hồng Ngọc
Các phiên khoa học tập trung vào tối thiểu hóa phẫu thuật, điều trị toàn thân, ung thư giai đoạn sớm và chẩn đoán, với những vấn đề đang được quan tâm như giảm can thiệp hạch nách, thu hẹp phạm vi phẫu thuật dựa trên đáp ứng sau điều trị tiền phẫu, cá thể hóa điều trị nội tiết, tối ưu liệu pháp miễn dịch và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong MRI tuyến vú.
Một trong những thay đổi rõ nhất nằm ngay trong phòng mổ. Nếu trước đây phẫu thuật thường hướng tới loại bỏ tổn thương trong phạm vi rộng để bảo đảm kiểm soát bệnh, cách tiếp cận hiện nay ngày càng chú trọng xác định chính xác người bệnh cần can thiệp ở mức độ nào. Đặc điểm khối u, đáp ứng với điều trị trước mổ và nguy cơ của từng trường hợp được đặt vào trung tâm của quyết định phẫu thuật.
Nhiều thách thức trong điều trị được đặt ra
Chia sẻ thêm, PGS Phương cho rằng xu hướng trẻ hóa đặt ra một vấn đề khác trong điều trị ung thư vú: làm thế nào để vừa kiểm soát bệnh vừa bảo tồn khả năng sinh sản cho phụ nữ còn trẻ.
"Hóa trị có thể gây rối loạn kinh nguyệt, thậm chí ảnh hưởng đến chức năng buồng trứng và khả năng sinh sản. Mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào tuổi, loại thuốc, liều điều trị và tình trạng chức năng buồng trứng của từng người bệnh.
Một số bệnh nhân có thể bị mất kinh tạm thời và chu kỳ kinh nguyệt hồi phục sau điều trị. Tuy nhiên, cũng có trường hợp chức năng buồng trứng bị ảnh hưởng lâu dài.
Đây là vấn đề đặc biệt đáng lưu ý với những phụ nữ trẻ mắc ung thư vú, nhất là người chưa từng sinh con hoặc vẫn có nhu cầu sinh con trong tương lai", PGS Phương cho hay.
Ung thư vú trẻ hóa, bác sĩ thay đổi cách điều trị. Ảnh: BSCC
Theo PGS.TS.BS. Nguyễn Thị Minh Phương, với những bệnh nhân có nguy cơ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản do hóa trị hoặc các phương pháp điều trị khác, bác sĩ cần tư vấn về bảo tồn khả năng sinh sản ngay từ trước khi bắt đầu điều trị.
Tùy từng trường hợp, người bệnh có thể được tư vấn trữ trứng hoặc phôi. Sau khi hoàn thành điều trị và bệnh được kiểm soát ổn định, nếu đáp ứng các điều kiện an toàn, người bệnh có thể được tư vấn kế hoạch mang thai và sinh con. Trứng hoặc phôi được bảo tồn trước điều trị có thể được sử dụng trong các phương pháp hỗ trợ sinh sản như thụ tinh trong ống nghiệm (IVF).
Theo chuyên gia, vấn đề sinh sản vì vậy cần được đặt ra ngay từ thời điểm chẩn đoán ung thư, thay vì chờ đến khi kết thúc điều trị mới bắt đầu cân nhắc.
"Với bệnh nhân ung thư vú đã điều trị ổn định, khả năng mang thai và sinh con cần được đánh giá trên từng trường hợp, dựa vào tình trạng bệnh, loại ung thư, phương pháp điều trị đã sử dụng và tư vấn của bác sĩ chuyên khoa. Đây cũng là một phần trong xu hướng điều trị cá thể hóa, khi mục tiêu không chỉ dừng ở kiểm soát ung thư mà còn hướng tới bảo tồn sức khỏe và chất lượng cuộc sống lâu dài cho người bệnh", PGS Phương nói.