Đóng

VCCI đề xuất gỡ vướng cơ chế kinh doanh xăng dầu, làm rõ tiêu chí về "đầu cơ"

  • Thu Dương (t/h)
(DS&PL) -

Theo VCCI, việc xác định và xử lý hành vi đầu cơ, găm hàng phải căn cứ đầy đủ các dấu hiệu vi phạm theo pháp luật có liên quan, không thể chỉ dựa vào việc hàng mua vào chưa được đưa ra tiêu thụ.

 Ảnh minh họa: Hồng Hạnh.

Góp ý cho Dự thảo kinh doanh xăng dầu của Bộ Công Thương về nội dung mua bán xăng dầu giữa các thương nhân phân phối, VCCI cho biết ủng hộ hướng cho phép thương nhân phân phối mua bán với nhau. Cơ chế này giúp điều tiết hàng cho cửa hàng nhỏ trong vùng, bổ sung nguồn khi một kênh cung ứng bị gián đoạn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, và duy trì cạnh tranh ở khâu bán buôn.

Tuy nhiên, VCCI góp ý cho quy định “mua nhưng không đưa ra tiêu thụ trên thị trường thì được xác định là hoạt động đầu cơ”.

VTC News đưa theo VCCI, quy định này tạo ra một suy đoán vi phạm nhưng chưa có tiêu chí về thời gian, khối lượng hay bối cảnh thị trường. Việc xác định và xử lý hành vi đầu cơ, găm hàng phải căn cứ đầy đủ các dấu hiệu vi phạm theo pháp luật có liên quan, không thể chỉ dựa vào việc hàng mua vào chưa được đưa ra tiêu thụ.

“Khoản 2 Điều 23 còn cho phép thương nhân đầu mối chủ động duy trì tồn kho cao hơn mức tối thiểu để bảo đảm nguồn cung. Do đó, cần phân biệt việc duy trì tồn kho phục vụ kinh doanh, bảo đảm nguồn cung với hành vi đầu cơ, găm hàng vi phạm pháp luật”, VCCI nêu vấn đề.

Bên cạnh đó, khoản 12 Điều 12 đã quy định trách nhiệm của thương nhân đầu mối trong việc bảo đảm nguồn cung theo thỏa thuận, thông báo và báo cáo khi không cung ứng đủ số lượng, chủng loại, tiến độ theo hợp đồng.

Tuy nhiên, quy định này chưa thể hiện rõ nguyên tắc không đơn phương ngừng hoặc giảm lượng cung cấp trái hợp đồng, cũng chưa có nguyên tắc thống nhất về phân bổ nguồn hàng khi thiếu hụt. Khi nguồn cung căng thẳng, cần tránh việc bên cung cấp ưu tiên hệ thống trực thuộc một cách bất hợp lý, ảnh hưởng đến các khách hàng ngoài hệ thống đã có hợp đồng cung ứng.

Báo Xây dựng cũng đưa thông tin từ VCCI cho hay, về cơ chế giá, VCCI cho rằng, việc trao quyền quyết định giá xăng dầu cho doanh nghiệp phù hợp với khoản 1 Điều 8 Luật Giá năm 2023. Tuy nhiên, quyền tự định giá cần đi đôi với cơ chế giám sát minh bạch, tránh can thiệp hành chính vào hoạt động kinh doanh.

Theo VCCI, khi lợi nhuận do thương nhân tự xác định, công thức giá tại Điều 28 chỉ nên là căn cứ để kê khai, giải trình và giám sát quá trình hình thành giá, không trở thành công cụ áp đặt lợi nhuận hoặc chi phí ngoài phạm vi pháp luật quy định.

VCCI cũng cho rằng, yêu cầu doanh nghiệp phải phân tích biến động từng yếu tố cấu thành giá so với lần điều chỉnh trước sẽ tạo thêm gánh nặng, đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ khi giá xăng dầu thay đổi thường xuyên.

Do đó, việc kiểm tra cần tập trung vào tính chính xác, trung thực của dữ liệu và việc tuân thủ pháp luật về giá, cạnh tranh, thay vì làm hạn chế quyền tự quyết giá của doanh nghiệp.

Một bất cập khác được VCCI chỉ ra là quy định giá bán xăng dầu tại địa bàn xa.

Theo dự thảo, thương nhân đầu mối được quyết định giá bán tại các địa bàn này trên cơ sở chi phí thực tế. Trong khi đó, thương nhân phân phối độc lập lại không được bán cao hơn mức giá tối đa do thương nhân đầu mối công bố tại cùng địa bàn.

VCCI cho rằng, quy định này chưa tính đến sự khác biệt về chi phí vận chuyển, quy mô và điều kiện kinh doanh giữa các doanh nghiệp.

Vì vậy, VCCI đề nghị chỉ áp dụng mức giá tối đa tại địa bàn xa trong thời gian bình ổn giá hoặc cho phép thương nhân phân phối xác định giá trên cơ sở chi phí thực tế tương tự thương nhân đầu mối.

Đối với quy định cho phép cơ quan quản lý áp dụng giá tối đa, khung giá hoặc giá cụ thể khi phát hiện dấu hiệu tăng giá bất hợp lý, VCCI đề nghị làm rõ điều kiện, thẩm quyền và trình tự thực hiện.

Nếu đây là biện pháp bình ổn giá, việc áp dụng phải tuân thủ pháp luật về giá, tránh hình thành thêm cơ chế can thiệp chỉ dựa trên những dấu hiệu chưa được xác định rõ.

Về xử lý Quỹ bình ổn giá xăng dầu, Người đưa tin cho biết thêm, VCCI cho rằng dự thảo đã xác định thời điểm chấm dứt trích lập, chi sử dụng Quỹ. Tuy nhiên, mốc chấm dứt cố định ngày 1/1/2027 có thể không trùng với ngày Nghị định có hiệu lực, trong khi thời điểm chốt số dư và phạm vi kiểm toán lại được xác định đến hết ngày liền kề trước ngày Nghị định có hiệu lực.

Nếu các mốc thời gian này khác nhau, VCCI cho rằng cần quy định rõ việc trích lập, chi sử dụng, quản lý và đối chiếu số dư trong giai đoạn chuyển tiếp.

Đối với khoản trích lập để hoàn trả tiền tạm ứng theo Nghị quyết số 69/NQ-CP, VCCI nhận định công thức giá tại Điều 28 chưa thể hiện cách xử lý khoản trích này. Dự thảo cũng chưa làm rõ mức trích, thời hạn tối đa và cơ chế công khai số dư. Vì vậy, VCCI đề nghị xác định chủ thể chịu nghĩa vụ, cơ sở tính, cách hạch toán và phương thức phản ánh khoản trích vào giá bán, tránh thu trùng hoặc áp dụng không thống nhất giữa các thương nhân.

Một vướng mắc khác nằm ở cách xác định số dư Quỹ. Theo VCCI, dự thảo quy định lựa chọn số liệu kiểm toán nếu số dư dương cao hơn số đã báo cáo, nhưng vẫn giữ số đã báo cáo nếu kết quả kiểm toán thấp hơn.

Theo đánh giá, cách xử lý này không cho phép điều chỉnh giảm nghĩa vụ theo kết quả kiểm toán độc lập, đồng thời chưa làm rõ mối quan hệ với quy định hoàn trả khi thương nhân đã nộp dư...

Tin nổi bật