Luật Quản lý thuế năm 2025 (Luật số 108/2025/QH15) chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7 với nhiều thay đổi trong quản lý thuế, tăng cường kỷ cương tài chính và minh bạch hóa nghĩa vụ thuế.
9 trường hợp cơ quan thuế được kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế
Một trong những nội dung đáng chú ý là quy định về các trường hợp cơ quan thuế thực hiện kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế.
Luật Quản lý thuế 2025 chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7 tới. Ảnh: Ngọc Thắng/ Thanh niên.
Dân trí cho hay, theo Khoản 3 Điều 22 Luật Quản lý thuế năm 2025, cơ quan thuế được thực hiện kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế trong 9 trường hợp.
Cơ quan thuế sẽ kiểm tra đối với hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế và hồ sơ thuộc diện kiểm tra sau hoàn thuế đối với các trường hợp được hoàn thuế trước theo nguyên tắc quản lý rủi ro. Việc kiểm tra sau hoàn thuế được thực hiện trong thời hạn 5 năm kể từ ngày ban hành quyết định hoàn thuế.
Cơ quan thuế cũng được kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế khi phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế hoặc khi người nộp thuế thuộc diện được lựa chọn theo kế hoạch, chuyên đề kiểm tra. Ngoài ra, hoạt động kiểm tra còn được thực hiện theo yêu cầu, đề nghị của cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định.
Đối với nhóm người nộp thuế có mức độ rủi ro cao, cơ quan thuế được kiểm tra khi doanh nghiệp thực hiện các hoạt động như chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, cổ phần hóa, phá sản, giải thể, chấm dứt hoạt động, chấm dứt hiệu lực mã số thuế hoặc chuyển địa điểm kinh doanh.
Bên cạnh đó, cơ quan thuế được kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế trong trường hợp hồ sơ khai thuế cần được làm rõ theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 22 Luật Quản lý thuế năm 2025. Hoạt động kiểm tra cũng được thực hiện khi phục vụ công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế.
Thông tin chi tiết 9 trường hợp cơ quan thuế kiểm tra tại trụ sở. Ảnh: Báo Tiền phong.
Ngoài các trường hợp nêu trên, cơ quan thuế còn được kiểm tra đối với hồ sơ miễn thuế, giảm thuế hoặc không thu thuế của người nộp thuế được đánh giá có mức độ rủi ro cao nhằm bảo đảm việc áp dụng chính sách thuế đúng quy định.
Theo quy định, người nộp thuế có quyền giải trình các vấn đề liên quan đến nội dung kiểm tra và bảo lưu ý kiến của mình; khiếu nại, khởi kiện, yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định; tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình kiểm tra thuế và thực hiện các quyền khác theo quy định về kiểm tra chuyên ngành.
Cơ quan thuế cho biết việc nắm rõ và tuân thủ đúng các quy định giúp doanh nghiệp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chủ động phòng ngừa rủi ro pháp lý và nâng cao tính tuân thủ trong thực hiện nghĩa vụ thuế.
Trường hợp phát sinh vướng mắc, người nộp thuế được khuyến nghị liên hệ trực tiếp cơ quan thuế quản lý để được hướng dẫn, giải đáp kịp thời.
10 hành vi bị xác định là trốn thuế từ 1/7
Theo khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế năm 2025, hành vi trốn thuế là việc người nộp thuế cố ý thực hiện các thủ đoạn nhằm làm thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, giảm hoặc hoàn thuế.
Luật quy định cụ thể 10 hành vi bị coi là trốn thuế, gồm: không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế hoặc nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn 90 ngày theo quy định làm thiếu số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được miễn, giảm, hoàn; không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp; không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn thấp hơn giá trị thanh toán thực tế nhằm làm giảm số thuế phải nộp.
Bên cạnh đó, các hành vi sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp hoặc sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ để xác định sai nghĩa vụ thuế; sử dụng chứng từ, tài liệu không đúng bản chất giao dịch hoặc khai sai thực tế giao dịch; khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện khắc phục hậu quả bằng cách nộp đủ số tiền thuế phải nộp theo quy định; cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cũng bị coi là hành vi trốn thuế.
Ngoài ra, Luật còn quy định các hành vi như cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa nhằm mục đích trốn thuế; sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế; người nộp thuế có hoạt động kinh doanh trong thời gian ngừng, tạm ngừng hoạt động kinh doanh nhưng không thông báo với cơ quan quản lý thuế.
VietNam+ cho hay, so với Luật Quản lý thuế năm 2019, điểm mới đáng chú ý là các hành vi trốn thuế đã được quy định trực tiếp trong Luật.
Trước đây, Luật Quản lý thuế năm 2019 chủ yếu quy định nguyên tắc xử lý đối với hành vi trốn thuế, còn việc xác định cụ thể từng hành vi chủ yếu được quy định tại các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.
Các chuyên gia kinh tế cho rằng, việc luật hóa các hành vi trốn thuế không đồng nghĩa phát sinh thêm các hành vi vi phạm mới. Trên thực tế, nhiều hành vi đã được điều chỉnh trong các quy định hiện hành.
Điểm mới của Luật Quản lý thuế năm 2025 là hệ thống hóa, nâng các quy định này lên thành quy định của luật, qua đó tăng tính minh bạch, thống nhất trong áp dụng và giúp người nộp thuế dễ tiếp cận, chủ động phòng tránh vi phạm.
Theo đó, việc hoàn thiện các quy định về hành vi trốn thuế xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện thể chế quản lý thuế trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế số, thương mại điện tử và các phương thức kinh doanh mới phát triển nhanh.
Cùng với sự thay đổi của hoạt động sản xuất, kinh doanh, các hành vi gian lận thuế cũng ngày càng đa dạng, không chỉ trong hoạt động truyền thống mà còn trên môi trường số, các nền tảng thương mại điện tử và giao dịch xuyên biên giới.
Người nộp thuế không bị xử phạt về hành vi trốn thuế mà bị xử phạt về hành vi vi phạm thủ tục thuế đối với trường hợp sau đây: không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế nhưng không phát sinh số tiền thuế phải nộp.
Nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế có phát sinh số tiền thuế phải nộp và người nộp thuế đã nộp đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế hoặc trước thời điểm cơ quan thuế lập biên bản về hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế, theo báo Thanh niên.