Đóng

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường nêu 5 giải pháp thúc đẩy giá trị xuất khẩu sầu riêng

  • Thu Dương (t/h)
(DS&PL) -

Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp khẳng định, những năm gần đây, sầu riêng đã trở thành một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của rau quả Việt Nam.

Sầu riêng đã trở thành một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của rau quả Việt Nam

Trên Cổng TTĐT Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, tại họp báo Chính phủ chiều 3/9, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp đã trả lời những câu hỏi liên quan đến xuất khẩu sầu riêng.

Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp khẳng định, những năm gần đây, sầu riêng đã trở thành một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của rau quả Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 177,7 triệu USD năm 2021 lên khoảng 3,85 tỷ USD năm 2025, chiếm khoảng 45% giá trị xuất khẩu nhóm ngành hàng rau quả.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp trả lời báo chí tại Họp báo Chính phủ chiều 3/9. Ảnh: Quang Phúc.

Trong 7 tháng năm 2026, xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng 1,47 tỷ USD, tăng 44,1% so với cùng kỳ; riêng thị trường Trung Quốc chiếm trên 95% thị phần, đạt khoảng 1,38 tỷ USD, tăng 49,6%, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường thông tin thêm.

Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ước 8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sầu riêng đạt 1,97 tỷ USD, tăng 28,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đạt 1,85 tỷ USD, tăng 29,9%.

Bên cạnh thị trường Trung Quốc, Việt Nam đã nỗ lực mở rộng thị trường xuất khẩu tới hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đặc biệt, từ tháng 7/2026, Ấn Độ chính thức cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam, mở ra dư địa tăng trưởng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.

Đối với sầu riêng, hiện cả nước có 1.599 mã số vùng trồng và 281 cơ sở đóng gói đang hoạt động. Gần đây nhất, ngày 14/8/2026, Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) đã phê duyệt bổ sung 401 mã số vùng trồng và 166 mã số cơ sở đóng gói đối với sầu riêng.

Theo Thứ trưởng, thời gian qua năng lực kiểm nghiệm phục vụ xuất khẩu được củng cố, hệ thống các phòng kiểm nghiệm được phía Trung Quốc chấp thuận ngày càng mở rộng, đáp ứng nhu cầu kiểm tra các chỉ tiêu an toàn thực phẩm. Đây là một trong những điều kiện quan trọng để duy trì xuất khẩu ổn định, hạn chế rủi ro phát sinh từ các cảnh báo về chất lượng và an toàn thực phẩm.

Đáng chú ý, từ ngày 1/7/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chính thức thực hiện truy xuất nguồn gốc nông sản nói chung và sản phẩm sầu riêng xuất khẩu nói riêng trên hệ thống điện tử.

Thứ trưởng cũng nêu một số khó khăn, thách thức liên quan đến xuất khẩu sầu riêng, đồng thời chỉ rõ bài học rút ra là cần chuyển từ tư duy "gỡ khó khi phát sinh" sang chủ động chuẩn bị từ sớm, từ xa. Lấy chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc làm nền tảng; lấy thị trường và doanh nghiệp làm định hướng tổ chức sản xuất; tăng cường liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi; chủ động đa dạng hóa thị trường và nâng cao giá trị gia tăng, qua đó xây dựng ngành hàng nông sản phát triển ổn định, minh bạch và bền vững.

5 giải pháp trọng tâm

Liên quan đến việc đẩy mạnh xuất khẩu sầu riêng trong thời gian tới, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp nhấn mạnh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo, định hướng nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc; hướng ngành hàng sầu riêng phát triển chuyên nghiệp, minh bạch, chất lượng, nâng cao giá trị và bền vững. Trong đó, tập trung thực hiện 5 giải pháp trọng tâm.

Một là, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; trong đó tiếp tục đàm phán mở rộng thị trường và tăng thị phần tại các thị trường tiềm năng (Ấn Độ, Úc, New Zealand,…).

Gia tăng xuất khẩu sầu riêng đông lạnh, sản phẩm chế biến sang các thị trường phù hợp. Tăng cường xúc tiến thương mại. Tổ chức quảng bá thương hiệu, kết nối cung cầu. Tăng cường thông tin, phân tích và dự báo thị trường, kịp thời định hướng sản xuất, thu hoạch và tiêu thụ.

Hai là, tổ chức lại sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu bền vững: Rà soát, quy hoạch vùng sản xuất phù hợp với điều kiện đất đai, nguồn nước, khí hậu và hạ tầng; phát triển vùng nguyên liệu tập trung gắn với sơ chế, chế biến, bảo quản, tiêu thụ và xuất khẩu; củng cố liên kết nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trở lại vùng nguyên liệu và từng bước xây dựng thương hiệu sầu riêng Việt Nam.

Ba là, chuẩn hóa chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc: Nâng cao trình độ nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao khoa học - công nghệ và chuyển đổi số.

Tổ chức sản xuất theo quy trình an toàn, kiểm soát chặt vật tư đầu vào và các nguy cơ về dư lượng; tăng cường giám sát an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật, cảnh báo sớm nguy cơ vi phạm; hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc từ vùng trồng, cơ sở đóng gói đến doanh nghiệp xuất khẩu.

Bốn là, phát triển hạ tầng bảo quản, chế biến và logistics: Khuyến khích đầu tư kho lạnh, sơ chế, bảo quản và chế biến tại vùng sản xuất tập trung; đẩy mạnh chế biến, đa dạng hóa sản phẩm và phương thức vận chuyển; ứng dụng công nghệ để giảm chi phí, nâng cao chất lượng, đồng thời nâng cấp hạ tầng thủy lợi, giao thông phục vụ vùng nguyên liệu.

Năm là, mở rộng, củng cố và nâng cao năng lực hệ thống phòng kiểm nghiệm; tiếp tục xã hội hóa, mở rộng các phòng kiểm nghiệm đủ điều kiện; ưu tiên đầu tư thiết bị, nâng cao năng lực kiểm nghiệm, nhất là đối với Cadimi, Vàng O và các chỉ tiêu theo yêu cầu thị trường nhập khẩu; hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ, phương pháp kiểm nghiệm đáp ứng yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu.

Đồng thời, chuẩn hóa quy trình, đẩy mạnh số hóa, rút ngắn thời gian và nâng cao độ tin cậy kết quả kiểm nghiệm; tổ chức hoạt động linh hoạt theo mùa vụ, công khai quy trình, thời gian, chi phí và tăng cường đào tạo, cập nhật kỹ thuật, tiêu chuẩn quốc tế cho đội ngũ kiểm nghiệm viên và cán bộ quản lý.

Tin nổi bật