Bộ Chính trị vừa ban hành Kế hoạch 06 về thực hiện Kết luận Hội nghị Trung ương 3, tiếp tục hoàn thiện và vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, trong đó có mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Theo kế hoạch này, các cơ sở giáo dục đại học (ĐH) công lập sẽ được sắp xếp, tổ chức lại theo hướng chuyển các cơ sở giáo dục ĐH đa ngành, đa lĩnh vực về Bộ GD&ĐT hoặc địa phương quản lí; sáp nhập, hợp nhất các cơ sở giáo dục trên cùng địa bàn, trừ những cơ sở thuộc lĩnh vực đặc thù. Mục tiêu được đặt ra là giảm tối thiểu 20% số đầu mối cơ sở giáo dục ĐH công lập, hoàn thành trước ngày 1/4/2027.
Trọng tâm là phần "lõi" chất lượng, không chỉ quy mô
Bàn về vấn đề trên, trao đổi trên báo Công an Nhân dân, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức (Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội) nhấn mạnh, điều cốt lõi trước hết phải xác định rất rõ mục tiêu cuối cùng của công cuộc sắp xếp, sáp nhập - phải là nâng cao chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu - đổi mới sáng tạo, hiệu quả sử dụng nguồn lực và sức cạnh tranh của đại học Việt Nam.
"Nếu chỉ nhìn sáp nhập như một phép giảm số lượng đầu mối hành chính thì chúng ta mới giải quyết được phần “vỏ”, chưa chạm đến phần “lõi” của bài toán", GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nói.
Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, hiện nay, một hạn chế của hệ thống là nguồn lực còn phân tán: Có nơi quy mô nhỏ, ngành đào tạo trùng lặp, phòng thí nghiệm và đội ngũ nghiên cứu bị chia cắt, trong khi các bài toán khoa học - công nghệ ngày càng liên ngành và đòi hỏi đầu tư lớn.
Vì vậy, sắp xếp lại mạng lưới phải hướng tới việc hình thành những cơ sở có đủ quy mô học thuật, đủ năng lực quản trị và đủ nguồn lực để tạo ra các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm dùng chung, chương trình đào tạo liên ngành và các trung tâm đổi mới sáng tạo có tầm vóc.
Ông Đức cho rằng, mỗi phương án sáp nhập cần trả lời được bốn câu hỏi rất cụ thể: Sau sáp nhập, chất lượng đào tạo và nghiên cứu có tăng không; nguồn lực có được tập trung và sử dụng hiệu quả hơn không; bộ máy quản trị có thực sự tinh gọn và ra quyết định nhanh hơn không; văn hóa của tổ chức có hòa hợp được và tốt hơn lên không.
Nếu không trả lời được bốn câu hỏi ấy bằng các chỉ tiêu đo lường được, rất dễ rơi vào tình trạng “to hơn về quy mô nhưng chưa mạnh hơn về năng lực”.
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: Công an Nhân dân
Về phía cơ quan quản lý, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn cho biết, việc sắp xếp cơ sở giáo dục đại học khó do phần lớn các trường có quy mô lớn, ngành nghề đào tạo, phân khúc, sứ mạng và chiến lược phát triển khác nhau.
Nhưng lâu dài việc này giúp từng cơ sở giáo dục đại học sẽ mạnh hơn, loại bỏ những cơ sở, nơi đào tạo chất lượng kém, hoạt động không hiệu quả.
Mục tiêu cuối cùng, theo ông, là hình thành hệ thống có khả năng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội.
Bộ trưởng GD&ĐT cho biết, Bộ đang hoàn thiện đề án, từng bước cùng các bộ, ngành để sắp xếp đến đâu chắc đến đó, từ đó có được hệ thống, mạng lưới đại học hoạt động hiệu quả và chất lượng.
Tinh gọn có thể trở thành một bước lùi nếu...
Đồng tình với chủ trương trên, PGS.TS Đỗ Văn Dũng (nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP.HCM) nhận định việc tinh gọn hệ thống là cần thiết. Các trường công lập hiện còn phân tán theo bộ, ngành, trùng ngành trên cùng địa bàn, quy mô nhỏ, khiến chi phí quản trị bị nhân lên. Nhưng ông ủng hộ mục tiêu tinh gọn không có nghĩa chấp nhận mọi cách làm.
Giảm số trường không đồng nghĩa chất lượng tăng. Hai trường yếu cộng lại chưa chắc mạnh hơn về chất lượng. Ghép một trường mạnh với một trường yếu không tạo ra một trường khá. Nếu thiếu thiết kế tổ chức phù hợp, rất dễ hình thành một bộ máy “hai tốc độ”, với hai cách vận hành, hai chuẩn quản trị và những rào cản mới.
Thực tế, sau sáp nhập, không ít nơi vẫn tồn tại tư duy “cơ sở A - cơ sở B”, bộ máy cũ kéo dài, quyết định chậm hơn thay vì nhanh hơn. Thương hiệu mạnh có nguy cơ bị pha loãng, trong khi bộ máy, biên chế và nếp hành chính của trường yếu lại được mang nguyên sang tổ chức mới.
Đáng lo hơn, nếu chuyển quyền quản lí về địa phương khi năng lực giám sát về kiểm định, tài chính công và nghiên cứu chưa tương xứng, tự chủ đại học có thể bị thay thế bởi những can thiệp hành chính ngắn hạn về tuyển sinh, tổ chức và biên chế...
Việc sắp xếp cơ sở giáo dục đại học khó do phần lớn các trường có quy mô lớn, ngành nghề đào tạo, phân khúc, sứ mạng và chiến lược phát triển khác nhau. Ảnh: Vân Trang/Lao động
Từ góc độ thực tiễn, việc sắp xếp đang có những bước đi đầu tiên, điển hình là việc Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa sáp nhập vào Trường Đại học Hồng Đức hồi tháng 7.
Hậu sáp nhập, Trường Đại học Hồng Đức đạt quy mô lớn với 919 cán bộ, viên chức; đào tạo 8 ngành tiến sĩ, 25 ngành thạc sĩ và 54 ngành đại học cho gần 20.000 người học.
Lãnh đạo nhà trường khẳng định, cơ hội lớn nhất không nằm ở việc phình to quy mô, mà ở khả năng tái cấu trúc để vươn lên thành đại học đa ngành, đa lĩnh vực, đáp ứng yêu cầu của Thanh Hóa và cả nước.
Để sáp nhập thực sự thành công, trường xác định ưu tiên trước mắt là bảo đảm hoạt động đào tạo thông suốt, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người học và đội ngũ.
Đồng thời, quá trình rà soát lại bộ máy, chương trình và cơ sở vật chất sẽ được tiến hành nghiêm túc theo đúng nguyên tắc: kế thừa, tinh gọn và phát huy thế mạnh.