Như đã đưa tin, mới đây, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) tuyên bố một máy bay không người lái (UAV) Shahed-136 trị giá 20.000 USD đã gây ra vụ tấn công làm hư hại máy bay cảnh báo sớm E-3 Sentry trị giá hơn 500 triệu USD tại căn cứ không quân Prince Sultan của Mỹ ở Ả rập Xê út hôm 27/3.
Theo IRGC, máy bay E-3, được biết đến với tên gọi Hệ thống Cảnh báo Sớm và Chỉ huy Trên không (AWACS), đang cố gắng né tránh các cuộc không kích của Iran khi bị một máy bay không người lái (UAV) Shahed-136 “truy đuổi”.
Lực lượng Không gian Vũ trụ IRGC đã ra tuyên bố vào ngày 29/3 khẳng định máy bay E-3 Sentry của Mỹ đã bị "phá hủy hoàn toàn".
Hình ảnh chiếc E-3G được cho là trúng tên lửa của Iran tại căn cứ Prince Sultan. Ảnh: OSINTdefender
Sức mạnh của E-3 Sentry
Máy bay cảnh báo sớm và kiểm soát trên không E-3 Sentry do Boeing phát triển, dựa trên khung thân của dòng máy bay chở khách Boeing 707-320B. Đây là kết quả của chương trình AWACS (Airborne Warning and Control System) khởi động từ thập niên 1960, nhằm khắc phục hạn chế “đường chân trời radar” của các hệ thống mặt đất.
Theo Tạp chí quân sự Topwar, nguyên mẫu máy bay E-3 thực hiện chuyến bay đầu tiên vào năm 1972 và được biên chế chính thức năm 1977 cho Không quân Mỹ. Do giá thành chế tạo đắt đỏ, chỉ có 68 chiếc E-3 được sản xuất và Quân đội Mỹ hiện còn khoảng 16-31 chiếc đang hoạt động.
E-3 Sentry ra đời trong Chiến tranh Lạnh, khi Mỹ nhận ra radar mặt đất dù mạnh đến đâu vẫn có điểm yếu cố hữu là bị giới hạn bởi đường chân trời. Những mục tiêu bay thấp như máy bay cường kích, tên lửa hành trình hay UAV đều có thể bám địa hình để ẩn mình, khiến radar mặt đất chỉ phát hiện được ở phạm vi giới hạn. Và giải pháp của Mỹ là đưa radar lên không trung.
Máy bay E-3 Sentry của Không quân Mỹ tại Căn cứ Không quân Prince Sultan ngày 11/3/2026. Ảnh: Airbus
Radar là bộ phận đặc trưng nhất của E-3 Sentry, với đường kính khoảng 9,1 m, độ dày 1,8 m và được nâng đỡ bằng hai trụ chống thủy lực cao gần 3,3 m tính từ thân.
Khối radar nặng hàng tấn này không chỉ được cố định chắc chắn mà còn phải duy trì chuyển động quay liên tục trong suốt quá trình làm nhiệm vụ. Để đảm bảo yêu cầu đó, các kỹ sư đã thiết kế một hệ thống truyền động cơ khí – thủy lực phức tạp, cho phép rotodome quay ổn định với tốc độ khoảng 6 vòng/phút, đồng thời vẫn bảo đảm độ chính xác và độ bền trong điều kiện khai thác kéo dài.
Ở E-3 Sentry sử dụng hệ thống radar AN/APY-1, sau này được nâng cấp lên chuẩn AN/APY-2, do Northrop Grumman (trước đây là Westinghouse) phát triển. Đây là radar xung Doppler thụ động hoạt động ở băng tần S, được thiết kế chuyên biệt để khắc phục một trong những thách thức lớn nhất của radar trên không: nhiễu dội từ mặt đất.
Trong điều kiện quan sát từ trên cao, tín hiệu radar thường bị “nhiễu nền” do phản xạ từ địa hình như núi non, công trình và bề mặt gồ ghề. Công nghệ xung Doppler giải quyết bài toán này bằng cách đo sự thay đổi tần số của sóng phản hồi. Những tín hiệu không có sự dịch chuyển tần số – tức từ các vật thể đứng yên – sẽ bị loại bỏ, trong khi các tín hiệu có biến đổi tần số, đại diện cho mục tiêu đang di chuyển, được giữ lại và xử lý.
Máy bay E-3 Sentry của Không quân Mỹ. Ảnh minh hoạ
Nhờ cơ chế lọc nhiễu tiên tiến kết hợp hệ thống máy tính xử lý tín hiệu, E-3 Sentry có khả năng phát hiện và bám bắt các mục tiêu bay thấp, kể cả trong môi trường nhiễu phức tạp, ở khoảng cách lên tới 400 km. Với các mục tiêu bay ở độ cao trung bình và lớn, phạm vi phát hiện còn được mở rộng xa hơn đáng kể, tạo nên ưu thế vượt trội về nhận thức tình huống trên không. Chính vì vậy, E-3 được coi là "máy bay mắt thần" của không quân Mỹ.
Về thiết kế, E-3 có chiều dài 46,61m, sải cánh dài 44,42m, chiều cao 12,6m. Sử dụng động cơ Pratt and Whitney TF33-PW-100A, E-3 có thể đạt vận tốc tối đa lên tới 855km/giờ, trần bay 12.500m, theo Military Today.
Mỹ mất năng lực quan trọng gì khi mất E-3 Sentry?
Một báo cáo tháng này của Trung tâm An ninh Mỹ Mới gọi AWACS là “tiền vệ” trên chiến trường, nhanh nhẹn cung cấp thông tin tình huống quan trọng và phối hợp theo thời gian thực, biến các chuyến xuất kích riêng lẻ thành lực lượng áp đảo.
AWACS được coi là tài sản không thể thiếu trong hoạt động quân sự của Mỹ hiện nay và trong tương lai gần.
Ông Peter Layton, cựu sĩ quan Không quân Hoàng gia Australia, nhận định rằng radar trên không làm giảm đáng kể thời gian phát hiện mối đe dọa. Theo ông Layton, trong xung đột hiện nay, chiếc E-3 có thể phát hiện thiết bị bay không người lái Shahed của Iran xuất phát cách 322 km sớm hơn radar trên mặt đất khoảng 85 phút.
Vì di động nên AWACS có thể nhanh chóng di chuyển tới khu vực mới và là mục tiêu khó tấn công hơn radar cố định trên mặt đất.
Vụ tấn công của Iran vào căn cứ không quân Prince Sultan làm bị thương 12 binh sĩ Mỹ và làm hư hại tới 5 máy bay tiếp nhiên liệu trên không. Ảnh: Planet Labs
Nhà phân tích quân sự Cedric Leighton, cựu đại tá Không quân Mỹ, đánh giá vụ E-3 bị phá hủy trên mặt đất là vụ vi phạm nghiêm trọng nỗ lực bảo vệ lực lượng. Theo ông, vụ tấn công có thể cho thấy Iran nhận được trợ giúp trong tấn công các tài sản quan trọng của Mỹ. Ông nói: “Rất có thể Nga đã cung cấp cho Iran tọa độ địa lý và ảnh vệ tinh cho thấy vị trí chính xác”.
Theo bà Kelly Grieco, nghiên cứu viên tại Trung tâm Stimson, cuộc tấn công cho thấy Iran chọn lọc các mục tiêu giá trị cao. Bà chỉ ra các vụ tấn công vào radar và cơ sở thông tin vệ tinh ở các căn cứ Mỹ khác trong khu vực kể từ khi chiến tranh bắt đầu. Bà Grieco viết trên X: “Iran đang nhắm vào radar phát hiện mối đe dọa, máy bay tiếp nhiên liệu duy trì hoạt động cho tiêm kích và AWACS chỉ huy trận chiến. Đây là chiến dịch chống không quân. Phù hợp với những gì Iran thực sự làm được. Và thiệt hại là có thật”.
Các nhà phân tích cũng lưu ý quy mô và số năm phục vụ của đội máy bay E-3 cũng như áp lực từ hoạt động ở Trung Đông.
E-3 có nguồn cung hạn chế trong đội bay Mỹ, chỉ có 17 chiếc đầu năm nay. Số lượng AWACS này còn ít hơn cả oanh tạc cơ B-2 (20 chiếc). E-3 cũng đã cũ. Chiếc đầu tiên gia nhập đội bay năm 1978 và số lượng đã giảm từ 32 chiếc năm 2015.
Ngoài Mỹ, Saudi Arabia, Pháp và Chile cũng vận hành E-3. Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) có 14 chiếc.
Không quân Mỹ đang tìm giải pháp thay thế đội bay đã cũ này, nhưng Lầu Năm Góc chưa quyết định loại thay thế mặc dù một số nguyên mẫu đang trong quá trình phát triển.