Mới đây Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 283/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 10/9/2026.
Doanh nghiệp có thể bị phạt tới 50 triệu đồng
Điều 15 của Nghị định số 283 nêu rõ mức phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về giao kết hợp đồng lao động. Theo đó, nghị định quy định xử phạt với hành vi như:
Không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản đối với công việc có thời hạn từ đủ 1 tháng trở lên.
Không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người được ủy quyền giao kết hợp đồng lao động cho nhóm người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên làm công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng quy định tại khoản 2 Điều 18 của Bộ luật Lao động.
Giao kết không đúng loại hợp đồng lao động với người lao động.
Giao kết hợp đồng lao động không đầy đủ các nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật.
Khi mắc các sai phạm trên, người sử dụng lao động sẽ đối mặt với các mức phạt tiền dựa trên số lượng người lao động bị vi phạm.
Mức xử phạt được áp dụng theo các mức sau đây:
Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng: Vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động.
Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng: Vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động.
Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng: Vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động.
Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
Từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.
Điều 7 của Nghị định số 283 cho thấy các mức phạt nói trên là dành cho cá nhân, còn mức phạt tiền cho tổ chức là gấp đôi các mức này. Vì vậy, tổ chức vi phạm các hành vi nói trên có thể bị phạt tiền đến 50 triệu đồng.
Cũng theo Điều 15 của Nghị định, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng hoặc chứng chỉ của người lao động khi giao kết hoặc thực hiện hợp đồng lao động;
Buộc người lao động thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động;
Giao kết hợp đồng lao động với người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi mà không có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật của người lao động.
Ảnh minh họa/Tuổi Trẻ
Biện pháp khắc phục hậu quả khi doanh nghiệp vi phạm ký kết hợp đồng lao động sai
Buộc người sử dụng lao động giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người lao động khi có hành vi giao kết hợp đồng lao động không bằng văn bản với người lao động làm công việc có thời hạn từ 1 tháng trở lên quy định tại khoản 1 Điều này;
Buộc người sử dụng lao động giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người được ủy quyền giao kết hợp đồng lao động cho nhóm người lao động làm công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng khi có hành vi không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người được ủy quyền giao kết hợp đồng lao động cho nhóm người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên làm công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng quy định tại khoản 2 Điều 18 của Bộ luật Lao động được quy định tại khoản 1 Điều này;
Buộc người sử dụng lao động giao kết đúng loại hợp đồng với người lao động đối với hành vi giao kết không đúng loại hợp đồng lao động với người lao động quy định tại khoản 1 Điều này;
Buộc người sử dụng lao động trả lại bản chính giấy tờ tùy thân; văn bằng; chứng chỉ đã giữ của người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này;
Buộc người sử dụng lao động trả lại số tiền hoặc tài sản đã giữ của người lao động cộng với khoản tiền lãi của số tiền đã giữ của người lao động tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;
Buộc người sử dụng lao động trả lại bản chính giấy tờ tùy thân; văn bằng; chứng chỉ đã giữ của người lao động đối với hành vi vi phạm quy định trên.