Trong quá trình tham gia giao thông, nhiều tài xế vẫn thường nhầm lẫn giữa khái niệm “dừng xe” và “đỗ xe”, dẫn đến những vi phạm đáng tiếc khi gặp biển báo P.131. Để làm rõ vấn đề này, phóng viên ĐS&PL đã có cuộc trao đổi với Trung tá Nguyễn Việt Anh, cán bộ Đội CSGT đường bộ số 7 (Phòng CSGT Hà Nội) .
Biển báo P.131 “Cấm đỗ xe” theo QCVN 41:2024/BGTVT.
Trung tá Nguyễn Việt Anh cho biết, theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ QCVN 41:2024/BGTVT, biển P.131 là biển cấm đỗ xe, tức người điều khiển phương tiện không được đỗ xe tại khu vực đặt biển. Tuy nhiên, biển này không cấm dừng xe tạm thời nếu việc dừng xe đúng quy định và không gây cản trở giao thông.
Trung tá Nguyễn Việt Anh.
Căn cứ Điều 18 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024, “dừng xe” là trạng thái đứng yên tạm thời của phương tiện trong thời gian cần thiết để cho người lên, xuống xe, bốc xếp hàng hóa hoặc xử lý công việc cần thiết khác. Trong khi đó, “đỗ xe” là trạng thái đứng yên của phương tiện không giới hạn thời gian.
Từ quy định trên, người điều khiển phương tiện vẫn được phép dừng xe ngắn hạn tại nơi có biển P.131 để đón, trả khách hoặc xử lý tình huống cần thiết, nhưng phải thực hiện nhanh chóng và không được gây ùn tắc, cản trở giao thông. Ngược lại, nếu tài xế rời khỏi phương tiện, chờ khách trong thời gian dài hoặc để xe đứng yên kéo dài thì được xác định là hành vi đỗ xe trái quy định.
Trên thực tế, lực lượng CSGT thường gặp nhiều trường hợp tài xế bật đèn cảnh báo rồi rời xe để mua hàng, nghe điện thoại hoặc chờ người. Dù có bật tín hiệu cảnh báo, hành vi này vẫn bị xác định là đỗ xe tại nơi có biển “Cấm đỗ xe”.
Theo quy định hiện hành, người điều khiển ô tô có hành vi đỗ xe tại nơi có biển “Cấm đỗ xe” sẽ bị xử phạt từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Đối với người điều khiển xe máy, mức phạt từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng. Ngoài ra, nếu việc dừng hoặc đỗ xe gây cản trở giao thông, che khuất tầm nhìn hoặc tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông, người vi phạm có thể bị xử lý thêm các hành vi liên quan theo quy định pháp luật.
Lực lượng CSGT khuyến cáo người dân cần chú ý quan sát hệ thống biển báo khi tham gia giao thông, đồng thời nắm rõ sự khác nhau giữa “dừng xe” và “đỗ xe” để tránh vi phạm và góp phần bảo đảm trật tự, an toàn giao thông.
Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ.
Điều 18. Dừng xe, đỗ xe
1. Dừng xe là trạng thái đứng yên tạm thời của xe trong một khoảng thời gian cần thiết đủ để cho người lên xe, xuống xe, xếp dỡ hàng hóa, kiểm tra kỹ thuật xe hoặc hoạt động khác. Khi dừng xe không được tắt máy và không được rời khỏi vị trí lái, trừ trường hợp rời khỏi vị trí lái để đóng, mở cửa xe, xếp dỡ hàng hóa, kiểm tra kỹ thuật xe nhưng phải sử dụng phanh đỗ xe hoặc thực hiện biện pháp an toàn khác.
2. Đỗ xe là trạng thái đứng yên của xe không giới hạn thời gian. Khi đỗ xe, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ chỉ được rời khỏi xe khi đã sử dụng phanh đỗ xe hoặc thực hiện biện pháp an toàn khác. Xe đỗ trên đoạn đường dốc phải đánh lái về phía lề đường, chèn bánh.
3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ khi dừng xe, đỗ xe trên đường phải thực hiện các quy định sau đây:
a) Có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ khác biết khi ra, vào vị trí dừng xe, đỗ xe;
b) Không làm ảnh hưởng đến người đi bộ và các phương tiện tham gia giao thông đường bộ.
4. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ không được dừng xe, đỗ xe tại các vị trí sau đây:
a) Bên trái đường một chiều;
b) Trên đoạn đường cong hoặc gần đầu dốc mà tầm nhìn bị che khuất;
c) Trên cầu, trừ những trường hợp tổ chức giao thông cho phép;
d) Gầm cầu vượt, trừ những nơi cho phép dừng xe, đỗ xe;
đ) Song song cùng chiều với một xe khác đang dừng, đỗ trên đường;
e) Cách xe ô tô đang đỗ ngược chiều dưới 20 mét trên đường phố hẹp,
dưới 40 mét trên đường có một làn xe cơ giới trên một chiều đường;
g) Trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường;
h) Nơi đường giao nhau và trong phạm vi 05 mét tính từ mép đường giao nhau;
i) Điểm đón, trả khách;
k) Trước cổng và trong phạm vi 05 mét hai bên cổng trụ sở cơ quan, tổ chức có bố trí đường cho xe ra, vào;
l) Tại nơi phần đường có chiều rộng chỉ đủ cho một làn xe cơ giới;
m) Trong phạm vi an toàn của đường sắt;
n) Che khuất biển báo hiệu đường bộ, đèn tín hiệu giao thông;
o) Trên đường dành riêng cho xe buýt, trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước; trên lòng đường, vỉa hè trái quy định của pháp luật.
5. Trên đường bộ, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ chỉ được dừng xe, đỗ xe ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy; trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lề đường thì chỉ được dừng xe, đỗ xe sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của mình.
6. Trên đường phố, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ chỉ được dừng xe, đỗ xe sát theo lề đường, vỉa hè phía bên phải theo chiều đi của mình; bánh xe gần nhất không được cách xa lề đường, vỉa hè quá 0,25 mét và không gây cản trở, nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.
7. Trong trường hợp gặp sự cố kỹ thuật hoặc bất khả kháng khác buộc phải đỗ xe, khi đỗ xe chiếm một phần đường xe chạy hoặc tại nơi không được phép đỗ, phải có báo hiệu bằng đèn khẩn cấp hoặc đặt biển cảnh báo về phía sau xe để người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ khác biết.