Đóng

Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai ở trường học: Học trò hào hứng, thầy cô nỗ lực

  • Mộc Trà
(DS&PL) -

Từ những tiết Toán bằng tiếng Anh, học sinh tiểu học được làm quen với thuật ngữ chuyên môn, từng bước hình thành thói quen sử dụng ngôn ngữ thứ hai.

Dần đưa tiếng Anh vào các môn học

Ngày 7/10, tại Trường Tiểu học Văn Miếu – Quốc Tử giám (phường Văn Miếu - Quốc Tử giám, Hà Nội) tổ chức tiết dạy mẫu học song ngữ tiếng Anh – Toán đầu tiên theo Quyết định số 2371/QĐ-TTg ngày 27/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Đề án "Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045", nhằm nâng cao năng lực tiếng Anh cho trẻ em, học sinh, sinh viên, góp phần phát triển con người Việt Nam trong thời đại khoa học và công nghệ, kỉ nguyên số, tăng cường hội nhập quốc tế.

Ghi nhận không khí trong tiết học song ngữ đầu tiên tại lớp 5A4, các em học sinh tại đây tỏ ra rất hào hứng khi lần đầu được học kiến thức môn Toán thông qua các thuật ngữ chuyên ngành bằng tiếng Anh.

Học sinh lớp 5A4 Trường Tiểu học Văn Miếu - Quốc Tử Giám hào hứng trong tiết học Toán bằng tiếng Anh.

Em Nguyễn Minh Đạt, học sinh lớp 5A4, cho biết đây là buổi đầu tiên em được học Toán bằng tiếng Anh tại trường. Dù mới tiếp cận mô hình, Đạt không cảm thấy quá khó khăn.

“Em thấy rất hào hứng khi được học môn Toán bằng Tiếng anh, em thấy kiến thức không khó lắm mà cũng không dễ. Em thấy mô hình này rất vui và thú vị”, Đạt chia sẻ.

Từ những thuật ngữ đơn giản, học sinh từng bước hình thành thói quen sử dụng tiếng Anh trong giờ học.

Theo nam sinh, trước khi tham gia tiết học, em đã học riêng tiếng Anh và Toán tại nhà. Việc kết hợp kiến thức của hai môn giúp em tự tin hơn khi bước vào tiết học song ngữ.

Không chỉ môn Toán, Đạt mong muốn nhà trường có thể mở rộng mô hình sang các môn học khác như Khoa học, Lịch sử,…

Tiết Toán song ngữ giúp học sinh đồng thời tiếp cận kiến thức môn học và rèn luyện tiếng Anh.

Tương tự, em Nguyễn Linh Nhi, học sinh lớp 5A4, cho biết em cảm thấy hào hứng trong buổi học đầu tiên. Nhi cho rằng cách giảng dạy của giáo viên dễ hiểu, giúp em tiếp thu được toàn bộ nội dung bài học.

“Em mong những môn như Khoa học, Lịch sử cũng được học bằng tiếng Anh để chúng em có thêm hiểu biết và nâng cao khả năng tiếng Anh”, Nhi nói.

Ngoài ra, nữ sinh cho biết thêm, em bắt đầu học tiếng Anh từ lớp 1. Ngoài chương trình tại trường, em được gia đình cho học thêm để bổ sung vốn từ vựng và có thêm kinh nghiệm sử dụng tiếng Anh.

Học sinh tương tác với giáo viên bằng tiếng Anh trong tiết học Toán song ngữ.

Giáo viên cũng phải từng bước thích nghi

Theo cô Nguyễn Lê Thùy Dương, giáo viên chủ nhiệm khối 5, Trường Tiểu học Văn Miếu – Quốc Tử Giám, trước đây học sinh chủ yếu được học tiếng Anh như một môn riêng và sử dụng một số khẩu lệnh bằng tiếng Anh trong lớp. Điểm mới của tiết học là giáo viên đưa tiếng Anh vào nội dung chuyên môn, sử dụng các thuật ngữ Toán học bằng tiếng Anh trong quá trình giảng dạy. Việc này giúp tiết học trở nên mới mẻ, đồng thời tạo thêm cơ hội để học sinh sử dụng tiếng Anh trong một ngữ cảnh cụ thể.

Nữ giáo viên chia sẻ, ở các tiết học, giáo viên có thể sử dụng tiếng Anh linh hoạt tùy thuộc vào nội dung bài học và khả năng tiếp thu của học sinh. “Không phải hôm nào cũng sử dụng các từ chuyên ngành. Giáo viên có thể dùng những câu khẩu lệnh ngắn để học sinh làm quen dần”, cô Dương chia sẻ.

Giáo viên linh hoạt đưa tiếng Anh vào bài giảng, phù hợp với năng lực của từng lớp và từng học sinh.

Trao đổi với PV ĐS&PL cô Nguyễn Thị Kim Phượng, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Văn Miếu - Quốc Tử Giám, cho biết việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học được xác định là một nhiệm vụ quan trọng, là hoạt động trọng tâm của năm học 2026-2027.

Nhà trường không chỉ đưa tiếng Anh vào các tiết học mà còn triển khai trong nhiều hoạt động khác như sân khấu hóa bằng tiếng Anh, hoạt động tập thể, múa hát, thể dục đầu giờ với các khẩu lệnh tiếng Anh.

Giáo viên từng bước đưa các thuật ngữ tiếng Anh vào môn học, phù hợp với năng lực của học sinh và giáo viên.

Bên cạnh đó, trường xây dựng các “English Corner” (góc tiếng Anh) theo từng chủ đề hằng tháng. Tại mỗi lớp học, học sinh được chủ động lựa chọn, viết và trưng bày những từ ngữ, thuật ngữ tiếng Anh mà các em yêu thích hoặc phù hợp với chủ đề của tháng.

Chẳng hạn, trong tháng 10, nội dung có thể xoay quanh chủ đề Ngày Phụ nữ Việt Nam. Sang tháng 11, các từ ngữ tiếng Anh sẽ gắn với chủ đề tri ân thầy cô; tháng 12 có thể hướng tới chủ đề về người lính.

Nhà trường kỳ vọng cách làm này giúp học sinh được tiếp xúc với tiếng Anh thường xuyên, theo từng chủ đề gần gũi với cuộc sống.

Nhà trường hướng tới việc đưa tiếng Anh trở thành một phần quen thuộc trong các hoạt động giáo dục hằng ngày. 

“Tích tiểu thành đại” để hình thành thói quen

Đối với giáo viên, nhà trường khuyến khích mỗi người dành khoảng 10 phút mỗi ngày để luyện tiếng Anh. Theo cô Phượng, nếu mỗi ngày giáo viên tích lũy khoảng 2-3 từ mới thì sau một tháng có thể có thêm khoảng 90-100 từ, từ đó từng bước nâng cao vốn từ và sự tự tin khi sử dụng ngôn ngữ.

Đáng chú ý, nhà trường đang hướng tới việc đưa tiếng Anh vào các môn học không phải môn tiếng Anh. Tuy nhiên, mức độ sử dụng được xác định linh hoạt, tùy năng lực ngoại ngữ của từng giáo viên.

Với những giáo viên có khả năng tiếng Anh tốt, tiết học có thể sử dụng nhiều thuật ngữ và tăng cường tương tác bằng tiếng Anh. Với giáo viên còn hạn chế, việc đưa vào 1-2 thuật ngữ tiếng Anh trong một tiết học 35-40 phút cũng được xem là bước khởi đầu.

“Mỗi tiết học đưa vào 1-2 thuật ngữ tiếng Anh, cô và trò cùng luyện tập, lâu dần sẽ hình thành thói quen sử dụng tiếng Anh”, cô Phượng cho biết.

Nhà trường cũng khuyến khích giáo viên sử dụng những câu khẩu lệnh đơn giản trong các hoạt động hằng ngày. Mục tiêu là tạo ra môi trường để giáo viên và học sinh có thể sử dụng tiếng Anh một cách tự nhiên hơn.

Không thể “đồng loạt” nếu chưa có lộ trình đào tạo

Theo Hiệu trưởng Trường Tiểu học Văn Miếu - Quốc Tử Giám, việc triển khai tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai phụ thuộc nhiều vào điều kiện của từng trường, năng lực giáo viên và trình độ học sinh.

Tại trường, học sinh lớp 5A4 có nền tảng tiếng Anh tương đối tốt do đã được học Toán bằng tiếng Anh iSMART từ lớp 1. Vì vậy, các em đã quen với nhiều thuật ngữ Toán học bằng tiếng Anh trước khi tham gia tiết học song ngữ.

Tuy nhiên, không phải lớp học nào cũng có điều kiện tương tự. Trình độ tiếng Anh của học sinh và giáo viên giữa các lớp có thể khác nhau.

Cô Phượng cho rằng giáo viên thuộc các thế hệ khác nhau cũng có những lợi thế riêng. Giáo viên trẻ được đào tạo bài bản hơn về ngoại ngữ và công nghệ, trong khi các giáo viên có nhiều năm kinh nghiệm lại có lợi thế về kỹ năng sư phạm.

Do đó, các thế hệ giáo viên cần hỗ trợ, học hỏi lẫn nhau thay vì đặt ra yêu cầu đồng loạt về năng lực sử dụng tiếng Anh.

Nhà trường cũng đang phối hợp với một số trung tâm để triển khai các giải pháp hỗ trợ, trong đó có phần mềm thiết kế bài giảng số. Các bài giảng có thể cung cấp một số thuật ngữ Toán học mới, phát âm mẫu để học sinh và giáo viên cùng nghe, luyện tập.

Giáo viên được khuyến khích dành thời gian luyện tiếng Anh mỗi ngày để nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ trong giảng dạy. 

Theo cô Phượng, cách làm này có thể hỗ trợ cả những giáo viên chưa tự tin về phát âm tiếng Anh.

Từ góc độ triển khai thực tế, nhà trường cho rằng không thể kỳ vọng tất cả lớp học ngay lập tức đạt được chất lượng như tiết Toán song ngữ của lớp 5A4.

“Muốn đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai và triển khai hàng loạt với chất lượng đồng đều như lớp 5A4 sẽ cần cả một quá trình đào tạo, bồi dưỡng”, cô Phượng nhận định.

Theo nữ hiệu trưởng, quá trình này cần một lộ trình phù hợp, trong đó có vai trò của ngành giáo dục và các trường sư phạm trong việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên.

Thay vì yêu cầu giáo viên phải sử dụng tiếng Anh ở mức độ cao ngay lập tức, nhà trường lựa chọn cách tiếp cận từng bước: giáo viên có thể bắt đầu từ những thuật ngữ đơn giản, các câu khẩu lệnh hằng ngày, sau đó tăng dần mức độ sử dụng.

Từ những thay đổi nhỏ trong từng tiết học, từng lớp học và từng hoạt động, nhà trường kỳ vọng tiếng Anh sẽ dần trở thành một phần quen thuộc trong môi trường giáo dục.

Bài và Ảnh: Lê Liên

Tin nổi bật