Đóng

"Đề xuất đổi mới cơ chế bình ổn giá xăng dầu – phải bảo đảm an ninh năng lượng, ổn định kinh tế vĩ mô và đời sống nhân dân"

  • Dương Thu
(DS&PL) -

Theo ĐBQH Trần Văn Lâm, thước đo hiệu quả của chính sách không phải là Nhà nước can thiệp nhiều hay ít, mà là thị trường có ổn định hơn không, nguồn cung có vững chắc hơn không, doanh nghiệp có phát triển lành mạnh hơn không và quyền lợi người dân có được bảo vệ tốt hơn không. Theo ông Lâm, đề xuất đổi mới cơ chế bình ổn giá xăng dầu phải bảo đảm an ninh năng lượng, ổn định kinh tế vĩ mô và đời sống nhân dân.

Tại dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu mới nhất, Bộ Công thương đề xuất bỏ Quỹ bình ổn giá xăng dầu khỏi danh mục các biện pháp bình ổn giá, đồng thời chấm dứt việc trích lập và chi sử dụng Quỹ này từ ngày 1/1/2027.

Cụ thể, theo dự thảo 14 Nghị định về kinh doanh xăng dầu do Bộ Công Thương trình Chính phủ tại Tờ trình số 8153/TTr-BCT ngày 8/10/2026, Điều 30 về nguyên tắc bình ổn giá xăng dầu được chỉnh sửa theo hướng thay đổi các công cụ điều hành giá. Tại điểm d khoản 2 Điều 30, dự thảo không còn liệt kê Quỹ bình ổn giá xăng dầu trong nhóm biện pháp bình ổn giá.

Thay vào đó, dự thảo nhấn mạnh việc kết hợp đồng bộ các biện pháp bình ổn giá, điều hòa cung cầu giữa nguồn cung từ sản xuất trong nước và xuất nhập khẩu, điều hòa cung cầu giữa các vùng, địa phương thông qua hệ thống phân phối, tổng nguồn xăng dầu tối thiểu, dự trữ lưu thông xăng dầu, dự trữ xăng dầu quốc gia, các biện pháp về thuế, tài chính, tiền tệ, và các biện pháp khác theo quy định của pháp luật.

Đáng chú ý, trong trường hợp cần thiết, cơ quan có thẩm quyền được điều hành giá bằng các biện pháp cụ thể gồm quy định giá tối đa, khung giá hoặc giá cụ thể có thời hạn.

Liên quan đến nội dung đang được dư luận quan tâm này, PV Tạp chí Đời sống và Pháp luật đã ghi nhận ý kiến từ ĐBQH Trần Văn Lâm, đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh.

Ảnh: Quochoi.vn

ĐS&PL: Ông đánh giá thế nào về việc bỏ Quỹ bình ổn giá xăng dầu trong giai đoạn hiện nay? Việc này nếu thực hiện sẽ khắc phục được những bất cập hiện tại như thế nào?

ĐBQH Trần Văn Lâm: Theo tôi, đánh giá việc bỏ Quỹ bình ổn giá xăng dầu phải xuất phát từ tính chất đặc biệt của mặt hàng này. Xăng dầu là mặt hàng chiến lược, gắn với thị trường toàn cầu, tác động trực tiếp đến an ninh năng lượng, ổn định kinh tế vĩ mô và đời sống nhân dân; đồng thời là chi phí đầu vào của hầu hết các ngành sản xuất, vận tải, dịch vụ. Giá xăng dầu tăng đột ngột không chỉ làm tăng chi phí đi lại mà còn kéo theo giá thành hàng hóa và chi phí sinh hoạt, qua đó tác động đến lạm phát, sức mua và tăng trưởng kinh tế.

Vì vậy, Nhà nước không thể để các cú sốc giá từ thị trường thế giới truyền nguyên mức vào nền kinh tế trong nước mà không có công cụ ứng phó. Đó cũng là lý do Luật Giá xếp xăng dầu vào danh mục hàng hóa bình ổn giá.

Thực tiễn cho thấy Quỹ bình ổn giá đã phát huy tác dụng nhất định, góp phần hạn chế biến động giá đột ngột, giảm tác động đến sản xuất, tiêu dùng và ổn định kinh tế vĩ mô. Tại kỳ điều hành ngày 11/3/2026, cơ quan quản lý đã sử dụng quỹ để giảm mức giá cơ sở phải phản ánh vào giá bán 4.000 đồng/lít đối với xăng và 5.000 đồng/lít đối với dầu điêzen. Điều này cho thấy công cụ vẫn hữu ích khi thị trường biến động mạnh.

Tuy nhiên, quỹ cũng bộc lộ những hạn chế. Thứ nhất, nguồn quỹ chủ yếu hình thành từ trích lập qua giá bán, thực chất chỉ điều tiết chi phí giữa các thời điểm chứ không làm giảm chi phí thực của nền kinh tế. Thứ hai, việc quản lý quỹ tại doanh nghiệp đầu mối còn vướng mắc về minh bạch, kiểm soát và trách nhiệm sử dụng. Thứ ba, khi giá tăng cao kéo dài, nguồn lực của quỹ có hạn, thậm chí phải sử dụng thêm ngân sách.

Mặt khác, quy mô nền kinh tế, khả năng huy động nguồn lực, hạ tầng năng lượng, công nghệ thông tin và công cụ điều hành vĩ mô hiện nay đã phát triển hơn trước, cho phép nghiên cứu phương thức điều tiết chủ động, minh bạch và bền vững hơn. Vì vậy, tôi đồng tình với định hướng đổi mới cơ chế bình ổn giá xăng dầu, kể cả thay thế quỹ nếu có phương án tốt hơn. Việc bỏ quỹ có thể khắc phục các bất cập về minh bạch, kiểm soát và áp lực lên ngân sách, nhưng không nên từ những bất cập trong quản lý quỹ mà phủ nhận vai trò của công cụ bình ổn.

Điều quan trọng không phải là bỏ quỹ nhanh hay chậm, mà là công cụ thay thế có bình ổn thị trường hiệu quả hơn, ít tốn kém hơn và bảo vệ tốt hơn lợi ích của người dân, doanh nghiệp hay không.

Bộ Công Thương đề xuất bỏ Quỹ bình ổn giá xăng dầu khỏi danh mục biện pháp bình ổn. Ảnh tư liệu: Dương Thu.

ĐS&PL: Thay vì Quỹ bình ổn như hiện nay, theo ông, những công cụ nào có thể thay thế để vẫn bảo đảm nguồn cung, minh bạch thị trường?

ĐBQH Trần Văn Lâm: Theo tôi, không nên chỉ tìm một quỹ tài chính khác để thay thế, mà cần xây dựng hệ thống công cụ điều tiết đồng bộ, trong đó trọng tâm là năng lực dự trữ xăng dầu chiến lược quốc gia. Đây là vấn đề căn cơ, cần được đặt ra mạnh mẽ hơn trong giai đoạn hiện nay.

Trước đây, do nguồn lực hạn chế, việc xây dựng hệ thống kho dự trữ quy mô lớn gặp nhiều khó khăn. Nay, với tiềm lực kinh tế được nâng lên cùng sự phát triển của cảng biển, kho chứa, cơ sở lọc hóa dầu và hạ tầng cung ứng, chúng ta có điều kiện để từng bước hình thành năng lực dự trữ chiến lược đủ mạnh. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu, khí đốt quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; vấn đề là phải sớm hiện thực hóa quy hoạch bằng các dự án đầu tư, nguồn lực và lộ trình cụ thể.

Có hệ thống dự trữ đủ mạnh, Nhà nước sẽ chủ động hơn trước biến động bất thường của thị trường thế giới, nhất là khi thiếu hụt nguồn cung, gián đoạn nhập khẩu hoặc khủng hoảng năng lượng. Việc đưa nguồn dự trữ vào lưu thông kịp thời, theo cơ chế phù hợp, góp phần hạn chế khan hiếm, đầu cơ và các cú sốc giá do thiếu nguồn cung. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy rõ điều này: tháng 3/2026, trước gián đoạn nguồn cung do xung đột Trung Đông, 32 nước thành viên Cơ quan Năng lượng quốc tế đã thống nhất đưa 400 triệu thùng dầu từ nguồn dự trữ khẩn cấp ra thị trường. Dự trữ chiến lược vì thế không chỉ bảo đảm an ninh năng lượng mà còn là công cụ ổn định thị trường.

Tuy nhiên, dự trữ quốc gia không thể thay thế hoàn toàn các biện pháp điều tiết giá, nhất là khi giá dầu thế giới tăng cao kéo dài. Do đó, cần kết hợp công cụ thuế và ngân sách: khi giá tăng đột biến, Nhà nước có thể xem xét điều chỉnh một số sắc thuế theo quy định của pháp luật hoặc hỗ trợ trực tiếp, có thời hạn đối với các đối tượng chịu tác động lớn. Kinh nghiệm của Malaysia cũng đáng chú ý: từ tháng 9/2025, nước này chuyển sang trợ giá xăng RON95 có mục tiêu thay cho trợ giá đại trà, nhằm bảo vệ đúng đối tượng và sử dụng ngân sách hiệu quả hơn.

Cùng với đó, phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế giá, phát triển thị trường cạnh tranh, công khai các yếu tố hình thành giá và nâng cao năng lực giám sát.

Tóm lại, tôi đề xuất ba trụ cột: dự trữ quốc gia đủ mạnh để chủ động nguồn cung; công cụ thuế, ngân sách đủ linh hoạt để ứng phó với cú sốc giá; thị trường cạnh tranh, minh bạch để hình thành giá hợp lý.

Đó là hướng đổi mới căn cơ, giúp giảm dần sự phụ thuộc vào một quỹ tài chính, đồng thời nâng cao năng lực tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế.

Ảnh tư liệu: Dương Thu.

ĐS&PL: Thực tế có nhiều giai đoạn quỹ không trích, không chi nhưng thị trường xăng dầu vẫn vận hành ổn định. Tuy nhiên, nếu bỏ quỹ thì cần có công cụ thay thế và cơ chế giám sát. Theo ông, làm sao để tránh tình trạng các đầu mối lớn bắt tay liên minh độc quyền, nâng giá bất hợp lý hoặc triệt tiêu cạnh tranh?

ĐBQH Trần Văn Lâm: Theo tôi, đây là vấn đề đặc biệt cần quan tâm khi chuyển đổi cơ chế quản lý giá xăng dầu. Cần phân biệt rõ: giá tăng do biến động cung cầu, chi phí đầu vào là biểu hiện bình thường của thị trường; còn giá tăng do thông đồng, thao túng, hạn chế nguồn cung hoặc lạm dụng vị trí thống lĩnh là hành vi phải bị ngăn chặn và xử lý theo pháp luật.

Thị trường xăng dầu có vốn đầu tư lớn, còn hệ thống kho cảng, nhập khẩu và phân phối tập trung vào một số doanh nghiệp. Nếu giảm can thiệp của Nhà nước vào giá mà chưa tạo được cạnh tranh thực chất, nguy cơ một số doanh nghiệp lớn chi phối thị trường là điều phải tính đến. Để phòng ngừa, cần thực hiện đồng bộ ba giải pháp.

Một là, tiếp tục cải cách điều kiện kinh doanh để các doanh nghiệp đủ năng lực được tham gia thị trường bình đẳng; giảm sự phụ thuộc bất hợp lý của doanh nghiệp phân phối, bán lẻ vào một đầu mối cung cấp; bảo đảm tiếp cận công bằng với hạ tầng kho cảng và hệ thống cung ứng.

Hai là, tăng cường thực thi Luật Cạnh tranh, nhất là đối với hành vi thông đồng ấn định giá, phân chia thị trường, lạm dụng vị trí thống lĩnh. Cơ quan quản lý không chỉ theo dõi giá bán lẻ mà phải nắm diễn biến thị phần, nguồn hàng, tồn kho, giá mua bán giữa các khâu và chiết khấu thương mại; dấu hiệu bất thường phải được kiểm tra, xác minh và xử lý kịp thời.

Ba là, đẩy mạnh số hóa và công khai thông tin thị trường. Khi dữ liệu về giá, nguồn cung và hoạt động phân phối được giám sát thường xuyên, cơ quan quản lý có thể sớm phát hiện nguy cơ thiếu hàng, đầu cơ hoặc hạn chế cạnh tranh; người tiêu dùng cũng có thêm thông tin để lựa chọn và giám sát.

Bên cạnh đó, dự trữ xăng dầu quốc gia giữ vai trò quan trọng: khi Nhà nước có nguồn dự trữ đủ mạnh và khả năng bổ sung hàng kịp thời trong tình huống bất thường, doanh nghiệp khó lợi dụng khan hiếm để đầu cơ, đẩy giá.

Bảo vệ người tiêu dùng không chỉ bằng kiểm soát giá, mà quan trọng hơn là bảo đảm thị trường có nguồn cung vững chắc và cạnh tranh thực chất.

Việc chuyển đổi cơ chế quản lý giá không thể trở thành cơ hội để một số doanh nghiệp lớn chi phối giá. Nhà nước có thể giảm can thiệp trực tiếp, nhưng phải tăng năng lực giám sát và bảo vệ cạnh tranh lành mạnh.

ĐS&PL: Xin ông nêu quan điểm về yêu cầu bình ổn giá phải phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng, không làm ảnh hưởng  tín hiệu thị trường trong trung và dài hạn?

ĐBQH Trần Văn Lâm: Trước hết cần thống nhất nhận thức: cơ chế thị trường và vai trò điều tiết của Nhà nước không đối lập nhau. Vấn đề là Nhà nước điều tiết bằng công cụ nào, trong trường hợp nào và ở mức độ nào để thị trường vận hành ổn định, hiệu quả.

Với mặt hàng chiến lược như xăng dầu, Nhà nước cần có khả năng hạn chế những biến động quá đột ngột, gây cú sốc cho sản xuất và đời sống. Nhưng bình ổn giá không có nghĩa là giữ giá cố định, càng không phải duy trì giá thấp hơn chi phí thực tế trong thời gian dài. Nếu giá thế giới tăng liên tục mà giá trong nước không được điều chỉnh phù hợp, doanh nghiệp có thể thua lỗ, giảm động lực nhập khẩu và kinh doanh, dẫn đến nguy cơ thiếu nguồn cung. Ngược lại, nếu mọi biến động giá thế giới đều truyền ngay vào thị trường trong nước mà thiếu biện pháp ứng phó, nền kinh tế và người dân sẽ phải chịu những cú sốc lớn.

Vì vậy, cần kết hợp hài hòa hai yêu cầu: hạn chế những cú sốc giá bất thường trong ngắn hạn, nhưng vẫn để giá phản ánh đúng xu hướng thị trường trong trung và dài hạn.

Về lợi ích, Nhà nước phải bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và an ninh năng lượng; doanh nghiệp được kinh doanh bình đẳng, bù đắp chi phí hợp lý và có lợi nhuận chính đáng; người tiêu dùng được tiếp cận nguồn cung ổn định, giá cả công khai, minh bạch, không bị thiệt hại bởi đầu cơ, thao túng thị trường.

Điều kiện của Việt Nam hiện nay đã khác trước về tiềm lực kinh tế, khả năng dự trữ, năng lực quản lý và trình độ phát triển thị trường. Vì vậy, phương thức điều tiết cũng cần đổi mới, chuyển mạnh từ xử lý biến động giá trước mắt sang chủ động bảo đảm nguồn cung, nâng cao năng lực dự trữ, vận dụng linh hoạt chính sách tài khóa và tăng cường cạnh tranh, minh bạch. Tuy nhiên, đổi mới phải có lộ trình, có đánh giá tác động và phương án xử lý tình huống bất thường; không nên bỏ công cụ hiện có khi công cụ thay thế chưa đủ tin cậy.

Thước đo hiệu quả của chính sách không phải là Nhà nước can thiệp nhiều hay ít, mà là thị trường có ổn định hơn không, nguồn cung có vững chắc hơn không, doanh nghiệp có phát triển lành mạnh hơn không và quyền lợi người dân có được bảo vệ tốt hơn không.

Mục tiêu cuối cùng không phải giữ hay bỏ một quỹ, mà là xây dựng thị trường xăng dầu cạnh tranh, minh bạch, có sức chống chịu cao, bảo đảm an ninh năng lượng, phục vụ phát triển kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân.

ĐS&PL: Trân trọng cảm ơn ông!

Tin nổi bật