Sự ra đời của Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam là kết quả của một lộ trình tái cơ cấu được triển khai bài bản, quyết liệt.
Trước đó, ngày 31/12/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 366/2025/NĐ-CP về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tạo tiền đề pháp lý quan trọng cho quá trình chuyển đổi. Tiếp đó, ngày 27/3/2026, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 498/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cơ cấu lại Tổng công ty Đường sắt Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035 theo định hướng mô hình Tập đoàn.
Ngày 11/8/2026 đánh dấu mốc quan trọng khi Phòng Đăng ký kinh doanh và Tài chính doanh nghiệp thuộc Sở Tài chính TP. Hà Nội cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam. Theo đó, Công ty mẹ được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Ảnh minh hoạ. Nguồn: VNR
Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam theo quy định tại Luật Đường sắt, Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; các Hiệp định, văn bản, thỏa thuận và hợp đồng đã ký kết với các bên có liên quan theo quy định của pháp luật.
Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh tế đa ngành, trong đó, vận tải đường sắt, xây dựng và bảo trì, công nghiệp và dịch vụ đường sắt là các lĩnh vực kinh doanh cốt lõi.
Trong đó, xây dựng công trình đường sắt (mã ngành 4211) được xác định là ngành kinh doanh chính, bao gồm toàn bộ các khâu từ quản lý, khai thác, bảo dưỡng đến sửa chữa hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia và kinh doanh hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt.
Đáng chú ý, danh mục ngành nghề của Tập đoàn đã được mở rộng lên tới 110 lĩnh vực khác nhau, tạo nên một hệ sinh thái kinh tế đa dạng xoay ngành đường sắt.
Bên cạnh việc duy trì lĩnh vực chủ lực trong vận tải hành khách đường sắt và vận tải hàng hóa đường sắt, Tập đoàn cũng đẩy mạnh mảng vận tải đa phương thức trong nước, liên vận quốc tế và các dịch vụ đại lý, hỗ trợ vận tải bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy và đường hàng không.
Trong lĩnh vực công nghiệp, Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam đăng ký sản xuất đầu máy xe lửa, xe điện, toa xe và các phương tiện, thiết bị chuyên dùng trên đường ray. Doanh nghiệp thực hiện gia công cơ khí, sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị.
Đồng thời, doanh nghiệp cũng mở rộng ngành nghề sang các lĩnh vực như công nghệ; bất động sản, tư vấn và quản lý bất động sản; giáo dục… Việc mở rộng danh mục được kỳ vọng giúp doanh nghiệp khai thác hiệu quả hơn tài sản, hạ tầng hiện có và tạo thêm nguồn thu ngoài hoạt động vận tải.
Theo định hướng của Chính phủ tại Quyết định số 498/QĐ-TTg, Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam được xác định giữ vai trò "xương sống" trong phát triển ngành đường sắt, từng bước làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030 đặt ra mục tiêu Tập đoàn áp dụng đầy đủ các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp hiện đại của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) trên nền tảng số. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là chìa khóa nhằm nâng cao tính minh bạch và hiệu quả vận hành.
Hướng tới năm 2035, Tập đoàn được kỳ vọng trở thành tập đoàn kinh tế mạnh, đủ năng lực vận hành mạng lưới đường sắt quốc gia hiện đại, đồng thời giữ vai trò trung tâm trong chuỗi logistics đa phương thức, liên vận quốc tế.