Sau khi phân tích cuộc đua thị phần và dòng chảy lợi ích trong thị trường gọi xe công nghệ trị giá hàng tỷ USD, nội dung của bài tiếp theo trong tuyến bài “Gọi xe công nghệ: Cuộc đua thị phần và những khoảng trống pháp lý” tập trung vào một vấn đề đang được nhiều chuyên gia, tài xế và doanh nghiệp quan tâm là những "vùng xám" pháp lý trong hoạt động của các nền tảng số.
Sự phát triển nhanh chóng của mô hình gọi xe công nghệ đã mang lại nhiều tiện ích cho xã hội, tạo việc làm cho hàng trăm nghìn lao động và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số. Tuy nhiên, tốc độ đổi mới của thị trường đang đặt ra không ít thách thức đối với hệ thống pháp luật hiện hành. Từ cơ chế thu phí, quản lý dữ liệu, trách nhiệm của nền tảng đối với tài xế đến vấn đề cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, vẫn còn nhiều nội dung chưa được quy định đầy đủ hoặc chưa theo kịp thực tiễn.
Thông qua ý kiến của các chuyên gia pháp lý, kinh tế và đại diện các bên liên quan, toà soạn Đời sống & Pháp luật sẽ chỉ ra những khoảng trống trong cơ chế quản lý, đồng thời đặt ra câu hỏi về việc hoàn thiện hành lang pháp lý cho kinh tế nền tảng. Khi "mỏ vàng" gọi xe công nghệ tiếp tục mở rộng, việc xây dựng một sân chơi minh bạch, công bằng và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp, tài xế và người tiêu dùng trở thành yêu cầu cấp thiết hơn bao giờ hết.
Trao đổi với PV Đời sống & Pháp luật, luật sư Hoàng Tùng, Trưởng Văn phòng luật sư Trung Hòa (Đoàn luật sư thành phố Hà Nội) cho rằng, trong khi các ứng dụng gọi xe đang vận hành như một “ông chủ số”, pháp luật hiện hành lại chưa theo kịp mô hình kinh tế nền tảng, khiến phần lớn rủi ro có nguy cơ bị đẩy về phía người lao động.
Khoảng trống pháp lý hiện nay vô tình trao cho doanh nghiệp quyền lực tuyệt đối qua các thuật toán, đẩy người lao động trực tiếp vào thế yếu và thiếu đi các rào cản bảo vệ vững chắc.
Phóng viên Đời sống & Pháp luật trao đổi với luật sư Hoàng Tùng, Trưởng Văn phòng luật sư Trung Hòa. Ảnh: Lê Liên
Luật sư Hoàng Tùng cho rằng, vấn đề mà chúng ta dễ dàng nhận thấy nhất là bản chất quan hệ lao động bị đánh tráo bởi hợp đồng thương mại.
“Các hãng xe công nghệ ký Hợp đồng hợp tác kinh doanh với tài xế theo Luật Thương mại 2005 và Luật Dân sự 2015 để né tránh nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT và các phúc lợi. Tuy nhiên, tài xế thực tế chịu sự quản lý, giám sát nghiêm ngặt từ thuật toán và các chế tài kỷ luật của hãng.
Dù hợp đồng hợp pháp về mặt tự do thỏa thuận, nhưng nó hoàn toàn xung đột với Khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động 2019. Quy định này nêu rõ: bất kỳ hợp đồng nào thể hiện việc làm có trả công và có sự quản lý, giám sát của một bên thì đều được coi là hợp đồng lao động. Việc đưa tài xế vào khung luật thương mại đã tước bỏ các quyền an sinh xã hội tối thiểu của họ”, luật sư Tùng phân tích.
Thứ hai, thuật toán tính chiết khấu "mập mờ", thiếu cơ chế kiểm soát. Các hãng xe thường tính chiết khấu dựa trên tổng doanh thu đã bao gồm Thuế giá trị gia tăng theo Nghị định 126/2020/NĐ-CP, dẫn đến tình trạng thuế chồng thuế đè nặng lên thu nhập tài xế. Ngoài ra, các loại phụ phí phát sinh (thời tiết, giờ cao điểm) được hệ thống tự động thiết lập mà không có sự giám sát độc lập.
Luật Giá và Luật Cạnh tranh chưa có quy định bắt buộc doanh nghiệp nền tảng phải công khai thuật toán định giá cho cơ quan quản lý. Hiện nay, các thuật toán này được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh theo Luật Sở hữu trí tuệ, tạo thành bức tường kiên cố ngăn chặn mọi nỗ lực thanh tra, giám sát từ cơ quan Nhà nước.
Cũng theo luật sư Hoàng Tùng, hiện nay các nền tảng gọi xe công nghệ đang sử dụng hợp đồng theo mẫu gây bất đối xứng quyền lực cho bên yếu thế. Hợp đồng giữa hãng xe và tài xế là hợp đồng theo mẫu kỹ thuật số. Tài xế chỉ có thể bấm Đồng ý để có việc làm chứ không có quyền thương lượng. Hơn nữa, doanh nghiệp luôn có điều khoản cho phép họ đơn phương thay đổi tỷ lệ chiết khấu hoặc áp đặt quy định phạt mới mà không cần tài xế đồng ý trước.
Cần phải nhớ rằng dù Điều 405 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về việc kiểm soát các điều khoản không công bằng trong hợp đồng theo mẫu, nhưng cơ chế thực thi thực tế rất yếu. Trong khi đó, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hiện hành chỉ bảo vệ người mua hàng cuối cùng, hoàn toàn bỏ ngỏ nhóm đối tác cá nhân trong nền kinh tế số.
Luật sư Hoàng Tùng kiến nghị hoàn thiện hành lang pháp lý để bảo vệ quyền lợi người lao động
Một bất cập tiếp theo là rào cản tiếp cận công lý khi xảy ra tranh chấp. Hệ thống ứng dụng cho phép hãng xe thực hiện quyền khóa tài khoản dựa trên đánh giá một chiều từ khách hàng hoặc lỗi thuật toán. Hành vi này tương đương với việc đơn phương sa thải, cắt đứt nguồn sống của tài xế mà không qua quy trình đối thoại, giải trình hay tranh tụng hợp pháp nào.
Theo lý thuyết hợp đồng thương mại, khi xảy ra xung đột, tài xế phải khởi kiện tại Tòa án hoặc Trọng tài thương mại theo Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên, thực tế có thể thấy đối với lao động phổ thông còn nhiều khó khăn. Có thể vì tâm lý e ngại mất thời gian hoặc e ngại chi phí và thủ tục tố tụng kéo dài so với số tiền tranh chấp nhỏ lẻ của vài cuốc xe.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi cho người lao động, luật sư Hoàng Tùng cho rằng cơ quan quản lý cần có giải pháp đồng bộ để lập lại trật tự công bằng.
Cụ thể, cơ quan quản lý cần ban hành Nghị định hướng dẫn về Lao động nền tảng nhằm cụ thể hóa Điều 13 Bộ luật Lao động 2019, chính thức thừa nhận tài xế công nghệ là nhóm lao động đặc thù để áp dụng mức chiết khấu trần và nghĩa vụ đóng bảo hiểm bắt buộc.
Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng cơ chế kiểm soát thuật toán, buộc các hãng xe phải đăng ký công thức tính giá, phân chia phụ phí và cấm tính chiết khấu chồng lên phần thuế GTGT của Nhà nước.
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cần xây dựng mô hình độc lập cho tài xế công nghệ, tạo cơ sở pháp lý để họ thực hiện quyền thương lượng tập thể và đối thoại bình đẳng với các doanh nghiệp.
Giữa làn sóng chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nền tảng, các ứng dụng gọi xe công nghệ rõ ràng đã mang lại nhiều tiện ích cho xã hội và tạo sinh kế cho hàng trăm nghìn lao động. Tuy nhiên, phía sau tốc độ tăng trưởng ấy là những “khoảng xám” pháp lý ngày càng bộc lộ rõ. Nếu không sớm hoàn thiện hành lang pháp lý cho mô hình lao động nền tảng, nguy cơ mất cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp công nghệ và người lao động sẽ ngày càng lớn, kéo theo nhiều hệ lụy xã hội trong tương lai.