Đóng

Đổi mới thực chất từ bên trong ngành giáo dục- ĐBQH Nguyễn Thị Sửu: "Phải thực hiện đồng bộ 3 chuyển đổi"

  • Dương Thu
(DS&PL) -

ĐBQH Nguyễn Thị Sửu cho rằng, đổi mới thực chất từ bên trong ngành giáo dục phải bắt đầu từ nơi gần người học nhất và cần phải thực hiện đồng bộ 3 chuyển đổi.

Liên quan đến nội dung này, PV ĐS&PL đã phỏng vấn Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Sửu - Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH thành phố Huế.

Phải thực hiện đồng bộ 3 chuyển đổi

ĐS&PL: Xin hỏi quan điểm của bà về “đổi mới thực chất từ bên trong ngành giáo dục”? Theo bà, cần bắt đầu tư đâu và điều gì là quan trọng nhất để đạt được điều này?

ĐBQH Nguyễn Thị Sửu: Theo tôi, phải bắt đầu từ thay đổi cách mà chúng ta nhìn nhận chất lượng giáo dục. Bởi vì sao? Trong suốt một thời gian dài, hệ thống giáo dục có xu hướng quan tâm nhiều đến những gì dễ thống kê, chẳng hạn như tỷ lệ tốt nghiệp, tỷ lệ lên lớp, số học sinh giỏi, số giải thưởng, số cuộc thi, số sáng kiến, hồ sơ hoàn thành…

Những chỉ số này không phải không có ý nghĩa, nhưng nếu chúng trở thành mục tiêu cuối cùng thì rất dễ dẫn đến bệnh thành tích.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Sửu - Phó Trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách Đoàn ĐBQH thành phố Huế. Ảnh: Quochoi.vn

Chúng ta cần đặt câu hỏi khác.

Đó là: Sau một năm học, học sinh thực sự tiến bộ như thế nào? Các em có đọc hiểu tốt hơn không? Có biết đặt câu hỏi tư duy độc lập, giải quyết vấn đề không? Có khả năng tự học, tự hợp tác, giao tiếp, sử dụng công nghệ và ngoại ngữ không? Có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng không? Quan trọng hơn là những học sinh còn yếu, còn khó khăn có được nhà trường phát hiện, hỗ trợ và không bị bỏ lại phía sau hay không?

Khi trả lời được những câu hỏi đó, chúng ta mới thực sự nói đến chất lượng giáo dục.

Vì vậy, điều quan trọng nhất của đổi mới từ bên trong ngành giáo dục là thay đổi văn hóa chất lượng của toàn hệ thống, không chạy theo thành tích của nhà trường mà quên mất sự tiến bộ của học sinh; không lấy điểm số thay cho năng lực; không lấy số lượng hoạt động thay cho chất lượng giáo dục.

Từ góc độ chính sách, tôi cho rằng phải thực hiện đồng bộ 3 chuyển đổi.

Thứ nhất là, chuyển đổi từ quản lý hành chính sang quản trị chất lượng. Nhà nước cần tập trung vào việc đặt ra chuẩn mục tiêu, cơ chế kiểm tra và trách nhiệm giải trình; đồng thời trao cho nhà trường và người đứng đầu đủ quyền hạn, nguồn lực để thực hiện.

Thứ hai là, chuyển đổi từ bình quân chung với phân bổ nguồn lực sang công bằng theo nhu cầu. Một trường ở vùng khó khăn không thể được đối xử bằng đúng một công thức nguồn lực như với trường ở khu vực có điều kiện thuận lợi.

Công bằng giáo dục phải được hiểu là bảo đảm cơ hội học tập có chất lượng cho mọi trẻ em, trong đó những nơi khó khăn hơn phải được ưu tiên nguồn lực nhiều hơn.

Thứ ba là, chuyển đổi từ tư duy hoàn thành chương trình sang bảo đảm người học đạt được năng lực. Một tiết học kết thúc đúng giờ chưa có nghĩa là học sinh đã học được; Một chương trình được triển khai đầy đủ chưa có nghĩa là mục tiêu giáo dục đã đạt được. Đây là thay đổi về tư duy tưởng như rất đơn giản nhưng thực chất có ý nghĩa quyết định lớn lao.

Một chỉ số rất đáng để ngành giáo dục theo dõi trong năm học 2026-2027

ĐS&PL: Việc đổi mới thực chất từ bên trong ngành giáo dục, theo bà, yêu cầu đặt ra cho vấn đề quản trị nhà trường, đội ngũ nhà giáo, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá năng lực, sẽ như thế nào?

ĐBQH Nguyễn Thị Sửu: Theo tôi, 4 yếu tố này phải được đổi mới đồng bộ, không thể đổi mới phương pháp dạy học nhưng giữ nguyên cách kiểm tra; không thể yêu cầu hiệu trưởng chịu trách nhiệm nhưng không trao quyền; cũng không thể yêu cầu giáo viên đổi mới nếu họ vẫn phải dành quá nhiều thời gian cho công việc hành chính.

Vì vậy trước hết là phải quản trị nhà trường. Hiệu trưởng trong giai đoạn mới không chỉ là người điều hành hành chính mà phải thực sự là người chịu trách nhiệm về chất lượng giáo dục của nhà trường.

Tôi cho rằng cần làm rõ ba vấn đề: Quyền hạn, trách nhiệm và trách nhiệm giải trình.

Nếu trao quyền tự chủ thì phải trao cả nguồn lực tương ứng. Nhưng tự chủ không có nghĩa là tự do làm gì cũng được. Tự chủ phải đi cùng với công khai minh bạch, kiểm tra và trách nhiệm giải trình.

Đánh giá một hiệu trưởng cũng cần thay đổi, không nên chủ yếu nhìn vào việc trường có bao nhiêu thành tích, bao nhiêu phong trào, bao nhiêu giải thưởng mà phải xem học sinh có tiến bộ không, chất lượng đội ngũ có tốt lên không, môi trường giáo dục có an toàn lành mạnh không, học sinh yếu có được hỗ trợ không, giáo viên có điều kiện làm chuyên môn không, nguồn lực công có được sử dụng hiệu quả không? Nhà trường phải được quản trị bằng kết quả chứ không phải bằng số lượng hay báo cáo.

Ảnh minh họa: Đỗ Giang.

Thứ hai, đối với đội ngũ nhà giáo, tôi cho rằng chính sách nhà giáo phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý đội ngũ sang phát triển nghề nghiệp, nhà giáo được nâng cao thu nhập, phụ cấp, cải thiện điều kiện làm việc là rất quan trọng. Nhưng tiền lương chỉ là một phần, người thầy cần có vị thế nghề nghiệp, môi trường chuyên môn, cơ hội phát triển, được bảo vệ khi thực hiện đúng trách nhiệm và đồng thời phải chịu trách nhiệm rõ ràng khi vi phạm chuẩn mực nghề nghiệp.

Tôi đặc biệt nhấn mạnh một điều, tôn vinh nhà giáo không có nghĩa là miễn trừ trách nhiệm cho nhà giáo. Ngược lại, xã hội càng coi trọng người thầy thì yêu cầu về năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm càng phải cao.

Chúng ta phải xây dựng một nghề giáo mà người giỏi muốn vào, người đang làm nghề muốn gắn bó, người không đáp ứng được yêu cầu phải được đánh giá, hỗ trợ hoặc xử lý phù hợp. Đồng thời phải giảm những công việc không tạo ra giá trị chuyên môn cho giáo viên.

Tôi cho rằng, một trong những chỉ số rất đáng để ngành giáo dục theo dõi trong năm học này là mỗi giáo viên thực sự có thêm bao nhiêu thời gian cho việc chuẩn bị bài, nghiên cứu chuyên môn và hỗ trợ học sinh.

Nếu đổi mới mà giáo viên vẫn bị cuốn vào hồ sơ, sổ sách, báo cáo và các hoạt động hình thức thì rất khó thành công.

Thứ ba là đối với phương pháp dạy học, phải chuyển từ truyền đạt kiến thức sang tổ chức học sinh học tập và phát triển năng lực. Học sinh không chỉ cần biết tính toán là gì mà phải biết vì sao, bằng cách nào và có thể vận dụng kiến thức đó vào tình huống mới hay không?

Cần khuyến khích những phương pháp mới giúp học sinh tự học, đặt câu hỏi, giải quyết vấn đề, hợp tác, tranh luận có căn cứ, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, sử dụng công nghệ một cách có trách nhiệm. Nhưng cũng cần tránh một cực đoan khác đó là biến mọi đổi mới phương pháp thành phong trào. Không phải cứ dùng máy tính, AI, STEAM hay một nền tảng số đã là đổi mới. Công nghệ chỉ có giá trị khi làm cho việc học tốt hơn. AI cũng vậy, nó có thể giúp giáo viên cá thể hóa việc dạy, giúp cho học sinh học sâu hơn nhưng không thể thay thế trách nhiệm chuyên môn của người thầy và càng không thể là công cụ để gian lận.

Thứ tư là đối với kiểm tra đánh giá, theo tôi, đây là một trong những khâu quyết định bởi vì giáo viên thường dạy theo cái được kiểm tra, học sinh thường học theo cái được đánh giá, và phụ huynh thường quan tâm đến cái được tính điểm cho con. Vậy nếu muốn thay đổi cách dạy phải thay đổi thước đo này.

Cần chuyển mạnh từ đánh giá chủ yếu để xếp loại sang đánh giá để thúc đẩy quá trình học tập và sự tiến bộ của học sinh. Cần tăng khả năng đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết vấn đề, tư duy độc lập thay vì quá phụ thuộc vào khả năng ghi nhớ. Đồng thời phải phân biệt thật rõ hai mục tiêu: Đánh giá để giúp học sinh tiến bộ và đánh giá để tuyển chọn phân loại. Hai mục tiêu này có liên quan nhưng không hoàn toàn giống nhau. Nếu một kỳ thi phải gánh quá nhiều chức năng thì áp lực thi cử và bệnh thành tích sẽ khó giảm.

Học sinh phấn khởi trong ngày khai giảng năm học 2025-2026. Ảnh minh họa: Đỗ Dương.

Kỳ vọng 5 thay đổi có thể nhìn thấy được và đo được

ĐS&PL: Thưa Đại biểu, năm học mới cũng đánh dấu tròn một năm thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71). Bà đánh giá thế nào về những chuyển biến của ngành giáo dục sau một năm bản lề và những kỳ vọng trong thời gian tới?

ĐBQH Nguyễn Thị Sửu: Tôi cho rằng, cần đánh giá một cách thẳng thắn, khách quan và có niềm tin.

Một năm qua có thể xem là năm tạo nền và tạo đà cho giai đoạn đột phá mới của giáo dục. Điều đáng ghi nhận trước hết là tư duy và vị trí của giáo dục trong chiến lược phát triển quốc gia đã được định vị ở tầm cao hơn.

Nghị quyết 71 xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đổi mới thể chế, phát triển đội ngũ nhà giáo, tăng cường nguồn lực, thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giáo dục…

Thời gian qua, nhiều chính sách quan trọng đã được thúc đẩy. Vấn đề nhà giáo, cơ sở vật chất, công bằng trong tiếp cận giáo dục, giáo dục STEAM, chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao… đã được đặt ra quyết liệt hơn. Đặc biệt, chúng ta đã bắt đầu hình thành những điều kiện về dữ liệu, về hạ tầng và thể chế để quản trị giáo dục hiện đại hơn.

Nhưng tôi cho rằng, không nên đồng nhất sự chuyển động của chính sách với sự thay đổi của chất lượng giáo dục. Một chính sách được ban hành mới là điều kiện cần. Điều quan trọng hơn là chính sách đó đến được lớp học như thế nào.

Chúng ta vẫn phải đối mặt với những vấn đề như: thiếu giáo viên ở một số nơi, cơ sở vật chất chưa đồng bộ, đồng đều, chất lượng giáo dục giữa các vùng miền còn khoảng cách, đổi mới phương pháp đánh giá ở một số nơi chưa thực chất, bệnh thành tích áp lực đối với giáo viên và học sinh vẫn còn lớn.

Vì vậy, tôi cho rằng, nếu năm vừa qua là năm tạo nền cho đổi mới thì năm học 2026-2027 phải là năm kiểm chứng năng lực thực thi của cả hệ thống. Đây chính là ý nghĩa của năm chuyển trạng thái.

ĐBQH Nguyễn Thị Sửu kỳ vọng năm học 2026-2027 sẽ tạo ra những thay đổi rất căn bản của ngành giáo dục. Ảnh minh họa: Đỗ Dương.

Tôi kỳ vọng năm học 2026-2027 sẽ tạo ra những thay đổi rất căn bản, ít nhất là 5 thay đổi có thể nhìn thấy được và đo được.

Thứ nhất, thay đổi thước đo thành công của giáo dục. Không nên để tỷ lệ học sinh giỏi hay số lượng giải thưởng trở thành trung tâm của đánh giá chất lượng. Cần xây dựng hệ thống chỉ số phản ánh thực chất hơn mức độ tiến bộ của học sinh, năng lực của người học, chất lượng đội ngũ, môi trường học đường, mức độ công bằng trong tiếp cận giáo dục và hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Thứ hai, giải quyết có địa chỉ vấn đề thiếu giáo viên và cơ sở vật chất. Không thể chỉ nói “cơ bản đáp ứng” và nhiều những câu tương tự mang tính chất thiếu cụ thể. Phải biết thiếu ở đâu, thiếu môn gì, thiếu bao nhiêu, thời hạn khắc phục là khi nào và ai chịu trách nhiệm. Đặc biệt cần có cơ chế điều tiết nguồn lực mạnh hơn cho những vùng khó khăn.

Thứ ba, giảm thực chất gánh nặng hành chính cho giáo viên. Tôi kỳ vọng năm học này, giáo viên có thể dành nhiều thời gian hơn cho chuyên môn và học sinh. Đổi mới giáo dục mà người thầy không có thời gian để dạy thì đó là một nghịch lý. Thực tiễn đã chứng minh, rất nhiều những hoạt động khác phụ kèm giờ lên lớp chính thống của người thầy.

Thứ tư, làm cho kiểm tra, đánh giá phải trở thành động lực nâng cao chất lượng. Học sinh cần khuyến khích học để hiểu, học để vận dụng chứ không phải chỉ học để vượt qua kỳ thi. Chúng ta phải chống gian lận nhưng đồng thời cũng phải giảm những động lực tạo ra gian lận. Không thể chỉ chống bệnh thành tích bằng mệnh lệnh mà phải thiết kế lại cơ chế đánh giá để hình thành việc hình thức, thành tích không còn đem lại lợi ích. Như thế thì đổi mới giáo dục mới thành công.

Thứ năm, xây dựng lại văn hóa nhà trường. Theo tôi, đây là mục tiêu sâu xa nhất. Một nhà trường tốt phải là nơi học sinh được tôn trọng, giáo viên được tôn trọng, kỷ luật được tôn trọng, pháp luật được tôn trọng và sự thật cũng được tôn trọng. Khi đó, thầy ra thầy, trò ra trò không còn là khẩu hiệu. Người thầy có tri thức, có nhân cách, có trách nhiệm và có lòng tự trọng nghề nghiệp, học sinh được tôn trọng nhưng cũng phải có kỷ luật, có trách nhiệm và có nghĩa vụ học tập. Đó chính là một môi trường giáo dục lành mạnh.

Đổi mới thực chất phải bắt đầu từ nơi gần người học nhất, từng nhà trường, từng lớp học, từng người thầy và từng học sinh. Ảnh minh họa: Đỗ Giang.

Hướng quan trọng trong giám sát việc thực hiện Nghị quyết 71

Từ góc độ là một Phó đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Huế, xa hơn, rộng hơn là từ góc độ của một Đại biểu Quốc hội có chức năng lập pháp và giám sát, tôi cho rằng cần làm thêm một việc, đó là biến các mục tiêu của Nghị quyết 71 thành một hệ thống trách nhiệm có thể kiểm chứng.

Mỗi một mục tiêu lớn phải trả lời được 4 câu hỏi: Ai chịu trách nhiệm? Nguồn lực ở đâu? Bao giờ hoàn thành? Đo bằng kết quả nào?

Nếu không trả lời được 4 câu hỏi này thì rất dễ xảy ra tình trạng chủ trương rất đúng nhưng thực hiện không đồng đều. Đây cũng là lúc mà vai trò của Quốc hội cần được phát huy mạnh hơn. Giám sát của Quốc hội không những chỉ hỏi Bộ, ngành, địa phương là đã ban hành kế hoạch chưa mà phải hỏi kết quả đã thay đổi như thế nào? Không chỉ hỏi áp lực thiếu bao nhiêu giáo viên mà phải hỏi tình trạng thiếu giáo viên thực tế đã giảm được bao nhiêu? Không chỉ hỏi chuyển đổi số bao nhiêu cơ sở giáo dục mà phải hỏi chuyển đổi số đã giúp giáo viên giảm bao nhiêu thời gian hành chính và giúp học sinh học tốt hơn như thế nào?

Và, không hỏi triển khai chương trình mới đến đâu mà cần hỏi năng lực học sinh có thực sự thay đổi hay không?

Đó là giám sát dựa trên kết quả và tôi cho rằng đây phải là một hướng quan trọng trong giám sát việc thực hiện Nghị quyết 71.

Cũng có thể nói thêm rộng hơn, điều mà tôi kỳ vọng nhất, năm học 2026-2027 sẽ là năm có nhiều khẩu hiệu mới hơn. Tôi kỳ vọng đây sẽ là năm người dân có thể nhìn thấy sự đổi thay trong chính lớp học của con em mình.

Một học sinh có thể học ít hình thức hơn nhưng học sâu hơn. Một giáo viên có thể làm ít hồ sơ hơn nhưng có nhiều thời gian hơn cho chuyên môn và học sinh. Một hiệu trưởng cũng được trao quyền nhiều hơn nhưng chịu trách nhiệm rõ hơn. Một kỳ thi tạo ít áp lực hình thức hơn nhưng đo năng lực thực chất hơn.

Và không thể không đề cập đến vai trò của địa phương. Một địa phương không cần báo cáo nhiều thành tích hơn mà phải giải quyết được những nơi còn thiếu trường, thiếu lớp, thiếu giáo viên. Quan trọng nhất là chúng ta phải chuyển từ tư duy làm cho đúng quy trình sang làm cho đúng mục tiêu giáo dục. Theo tôi đó chính là bản chất của đổi mới thực chất từ bên trong.

Nếu làm được điều này thì Nghị quyết 71 không chỉ tạo ra một cuộc đổi mới trong ngành giáo dục, xa hơn đó là một cuộc đầu tư chiến lược vào con người Việt Nam, vào chất lượng nguồn nhân lực và vào năng lực cạnh tranh của Quốc gia trong một giai đoạn phát triển mới. Bởi cuối cùng là gì, giáo dục không được đo bằng số lượng văn bản chúng ta ban hành, số lượng chương trình chúng ta triển khai, hay số lượng thành tích chúng ta báo cáo. Giáo dục phải được đo bằng chất lượng con người mà đất nước có được sau quá trình giáo dục.

Vì thế, đổi mới thực chất phải bắt đầu từ nơi gần người học nhất, từng nhà trường, từng lớp học, từng người thầy và từng học sinh.

ĐS&PL: Trân trọng cảm ơn bà đã trả lời phỏng vấn!      

 Ngày 5/9, hàng triệu học sinh trên khắp dải đất hình chữ S bước vào năm học 2026-2027. Tiếng trống khai trường năm nay không chỉ bắt đầu một năm học mới mà còn mở ra một chương mới cho ngành giáo dục, bởi đây là năm đầu tiên cả nước vận hành trường học sau sắp xếp cùng rất nhiều thay đổi trong quản trị, cũng là năm bước vào cuộc đổi mới thực chất từ bên trong.

Để thực hiện phương châm của năm học 2026-2027 là: "Đổi mới tư duy - Chuyển biến mạnh mẽ - Kết quả thực chất" chắc chắn cần rất nhiều yếu tố, bởi giáo dục không phải là việc riêng của ngành giáo dục, mà là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của toàn hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Xung quanh chủ đề này, ĐS&PL đã ghi nhận nhiều ý kiến từ phía nhà trường, chuyên gia, Đại biểu Quốc hội để cùng đồng hành với ngành giáo dục hướng đến kết quả tốt đẹp nhất trong cuộc sắp xếp trường học lớn chưa từng có.

Tin nổi bật