Đóng

ĐBQH: Vành đai 5 tạo ra 4 dư địa phát triển rất quan trọng, có thể trở thành hành lang kinh tế mới

  • Hoàng Bích - Hữu Thắng
(DS&PL) -

ĐBQH Nguyễn Ngọc Việt cho rằng, lợi thế lớn nhất của Vành đai 5 – Vùng Thủ đô không phải đơn thuần là tốc độ giao thông, mà là khả năng kết nối một không gian kinh tế có quy mô rất lớn.

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI đã thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5-Vùng Thủ đô Hà Nội. Trao đổi với Đời sống và Pháp luật, ĐBQH Nguyễn Ngọc Việt, Thành uỷ viên, đại biểu chuyên trách đoàn ĐBQH Tp.Hà Nội cho rằng dự án tạo ra ít nhất 4 dư địa phát triển rất quan trọng, đồng thời kỳ vọng Vành đai 5 có thể trở thành một hành lang kinh tế mới.

Hình thành một chuỗi cực tăng trưởng mới

ĐS&PL: Thưa đại biểu, với việc Quốc hội thông qua Nghị quyết đầu tư dự án xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội sẽ tạo ra những dư địa phát triển mới nào cho Hà Nội và các địa phương trong vùng, đặc biệt trong kết nối giao thông, logistics và hình thành các cực tăng trưởng mới?

ĐBQH Nguyễn Ngọc Việt: Theo tôi, cần nhìn tuyến đường Vành đai 5 ở một tầm rộng hơn một dự án giao thông. Đây thực chất là một cấu trúc hạ tầng có khả năng tổ chức lại không gian phát triển của Vùng Thủ đô.

Nghị quyết số 38/2026/QH16 xác định tuyến đường Vành đai 5 dài khoảng 349 km, đi qua 7 tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên và Phú Thọ, với mục tiêu không chỉ đáp ứng nhu cầu vận tải mà còn tạo động lực lan tỏa, mở ra không gian phát triển kinh tế mới và phân luồng giao thông từ xa.

ĐBQH Nguyễn Ngọc Việt (Ảnh: Hữu Thắng).

Tôi cho rằng dự án tạo ra ít nhất 4 dư địa phát triển rất quan trọng.

Thứ nhất, dư địa về tổ chức lại dòng giao thông của toàn vùng. Hiện nay một phần lớn lưu lượng liên tỉnh, đặc biệt vận tải hàng hóa, vẫn chịu sự phụ thuộc khá lớn vào mạng lưới hướng tâm và các tuyến vành đai gần trung tâm Hà Nội. Vành đai 5 kết nối 6 tuyến cao tốc hướng tâm lớn gồm Hà Nội - Lào Cai, Hà Nội - Thái Nguyên, Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Lạng Sơn, Pháp Vân - Cầu Giẽ - Ninh Bình và Hà Nội - Hòa Bình, đồng thời kết nối nhiều quốc lộ quan trọng.

Khi tuyến được khép kín, nhiều dòng phương tiện xuyên vùng sẽ không còn phải đi sâu vào Hà Nội. Điều đó vừa giảm áp lực cho Thủ đô, vừa giúp các địa phương giao thương trực tiếp với nhau mà không phải coi Hà Nội là điểm trung chuyển bắt buộc.

Thứ hai, dư địa hình thành một mạng logistics liên vùng mới. Vành đai 5 kết nối khu vực trung du, miền núi phía Bắc với đồng bằng sông Hồng, cảng biển, cảng hàng không và các trung tâm logistics.

Ý nghĩa rất lớn ở đây là chúng ta có thể tổ chức lại chuỗi cung ứng theo không gian rộng hơn: sản xuất có thể ở Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hưng Yên; kho vận có thể bố trí tại các nút giao chiến lược; hàng hóa đi ra cảng Hải Phòng hoặc kết nối trục Bắc - Nam mà không nhất thiết đi xuyên qua khu vực lõi Hà Nội. Điều này giúp giảm chi phí logistics sẽ làm tăng bán kính kinh tế của doanh nghiệp, mở rộng thị trường lao động và tăng khả năng chuyên môn hóa giữa các địa phương.

Quốc hội chốt 288.000 tỷ đồng xây Vành đai 5 - Vùng Thủ đô (Ảnh: Media Quốc hội).

 Thứ ba là, dư địa hình thành một chuỗi cực tăng trưởng mới. Vành đai 5 đi qua những địa phương có chức năng kinh tế khác nhau nhưng có khả năng bổ trợ rất mạnh: Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Phòng là các trung tâm công nghiệp, sản xuất, xuất nhập khẩu; Thái Nguyên, Phú Thọ là cầu nối với trung du và miền núi phía Bắc; Ninh Bình là cửa ngõ phía Nam gắn với trục Bắc - Nam và hành lang ven biển.

Nếu quy hoạch tốt, Vành đai 5 sẽ không tạo ra một "dải đô thị kéo dài" thiếu kiểm soát, mà có thể tạo thành một chuỗi các nút phát triển có chọn lọc: nút công nghiệp, nút logistics, nút đô thị - dịch vụ, nút khoa học - công nghệ, tùy theo lợi thế từng khu vực. Hồ sơ dự án cũng xác định Vành đai 5 có khả năng liên kết các cực tăng trưởng, phân bố lại công nghiệp, dịch vụ và logistics ra ngoài khu vực trung tâm.

Thứ tư, đối với riêng Hà Nội, tôi cho rằng dư địa lớn nhất là giảm áp lực phát triển lên lõi đô thị và chuyển từ mô hình "tập trung vào trung tâm" sang mô hình "đa cực, đa trung tâm, liên kết vùng". Đoạn Vành đai 5 trên địa bàn Hà Nội dài khoảng 50,76 km, đi qua khu vực phía Tây, Tây Nam và Nam Thành phố, gắn với Sơn Tây, Hòa Lạc, Xuân Mai, Mỹ Đức và các trục lớn. Đây chính là cơ hội để Hà Nội đẩy mạnh cấu trúc phát triển đa cực thay vì tiếp tục dồn dân cư, việc làm và dịch vụ vào khu vực nội đô.

Vì vậy, theo tôi, cách tiếp cận đúng phải là: không chỉ hoàn thành một tuyến đường, mà phải hình thành một hành lang kinh tế Vành đai 5.

Nếu chỉ xây cao tốc thì giá trị tạo ra chủ yếu là giá trị giao thông; nhưng nếu đồng thời tổ chức tốt quy hoạch, logistics, đô thị, công nghiệp, dịch vụ và các tuyến kết nối thì giá trị sẽ trở thành giá trị phát triển.

Để Hà Nội và cả vùng Thủ đô cùng phát triển

ĐS&PL: Vành đai 5 không chỉ là một dự án giao thông mà còn được kỳ vọng tạo động lực liên kết vùng. Theo ông, đâu là lợi thế lớn nhất mà Hà Nội và các địa phương cần tận dụng để biến hạ tầng giao thông này thành động lực phát triển kinh tế?

ĐBQH Nguyễn Ngọc Việt: Theo tôi, lợi thế lớn nhất của Vành đai 5 không phải đơn thuần là tốc độ giao thông, mà là khả năng kết nối một không gian kinh tế có quy mô rất lớn nhưng hiện nay chưa được tổ chức như một vùng thống nhất.

"Rút ngắn khoảng cách kinh tế" giữa các địa phương, chứ không chỉ rút ngắn thời gian di chuyển (Ảnh: Hữu Thắng).

Theo tôi, cần làm rõ một số vấn đề như: Phải xác định trước các nút giao chiến lược, chứ không phát triển dàn đều suốt 349 km; phải gắn đường bộ với vận tải đa phương thức; phải tổ chức lại phân công kinh tế vùng; không để lợi ích hạ tầng biến thành đầu cơ đất đai. Đây là vấn đề rất quan trọng.

Nếu chỉ chờ đường mở rồi giá đất tăng, chúng ta mới thu được giá trị địa tô chứ chưa tạo ra năng lực sản xuất mới. Giá trị lớn nhất phải là nhà máy mới, trung tâm logistics mới, việc làm mới, doanh nghiệp mới và năng suất mới.

Vì vậy, lợi thế cần tận dụng lớn nhất của Vành đai 5 là khả năng "rút ngắn khoảng cách kinh tế" giữa các địa phương, chứ không chỉ rút ngắn thời gian di chuyển. Hồ sơ dự án cũng nhấn mạnh tuyến đường này có thể "rút ngắn" khoảng cách giữa các địa phương, góp phần tái cấu trúc đô thị, dân cư, khai thác quỹ đất và nâng cao năng lực cạnh tranh của vùng.

Nếu làm được điều đó, Vành đai 5 sẽ giúp chuyển Vùng Thủ đô từ một tập hợp các địa phương nằm cạnh nhau thành một không gian kinh tế có tính tích hợp cao hơn.

ĐS&PL: Thủ đô đang được trao nhiều cơ chế, chính sách đặc thù để tạo không gian phát triển mới. Theo ông, cần kết hợp như thế nào giữa Vành đai 5 và các cơ chế đặc thù dành cho Hà Nội để tạo sự lan tỏa sang các địa phương trong Vùng Thủ đô?

ĐBQH Nguyễn Ngọc Việt: Theo tôi, thuận lợi rất lớn là tuyến đường Vành đai 5 được triển khai đúng vào thời điểm Hà Nội bước vào một chu kỳ phát triển mới, với Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 02-NQ/TW, Nghị quyết số 158/NQ-CP của Chính phủ, Luật Thủ đô năm 2026 và Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm.

Vì vậy, Vành đai 5 không nên được triển khai như một dự án giao thông độc lập, mà phải trở thành một công trình hạ tầng chiến lược để tổ chức lại không gian phát triển và tăng cường liên kết Vùng Thủ đô.

ĐBQH Nguyễn Ngọc Việt trao đổi với Người Đưa Tin bên hành lang Quốc hội (Ảnh: Hữu Thắng).

Theo tôi, cần tập trung vào 5 nhóm chính sách đặc thù, cụ thể là cơ chế liên kết và phát triển Vùng Thủ đô. Với Vành đai 5, cần chuyển từ tư duy "hạ tầng ở địa phương nào thì địa phương đó đầu tư" sang "hạ tầng phục vụ vùng thì nguồn lực của vùng cùng tham gia".

Tiếp đó là chính sách về Quỹ Phát triển vùng Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 cho phép thành lập Quỹ Phát triển vùng Thủ đô, cần phát huy Quỹ này để đầu tư những "mắt xích" có tính liên vùng như đường kết nối Vành đai 5 với các khu công nghiệp, trung tâm logistics, ga đường sắt và các cực đô thị; qua đó chuyển dần từ phân bổ nguồn lực theo địa giới hành chính sang theo hiệu quả phát triển vùng.

Cùng với đó là chính sách đặc thù về phát triển đường vành đai, trung tâm logistics và kết nối giao thông vùng. Hà Nội cần chủ động kết nối Vành đai 5 với Vành đai 4, các trục phát triển, đường sắt, logistics và các cực tăng trưởng, để hình thành một mạng lưới hạ tầng đồng bộ thay vì một tuyến đường đơn lẻ.

Kết hợp các cơ chế đặc thù về quy hoạch, đất đai và khai thác giá trị tăng thêm từ đất; đồng thời là các chính sách đặc thù về đầu tư, PPP, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số…

Luật Thủ đô và Nghị quyết 38/2026/QH16 tạo cơ chế, công cụ và nguồn lực; các chương trình hành động xác định việc phải làm; Vành đai 5 tạo không gian để tổ chức phát triển. Khi 3 yếu tố này được kết nối, Vành đai 5 có thể trở thành một hành lang kinh tế mới, để Hà Nội và cả vùng Thủ đô cùng phát triển, tạo thêm sức cạnh tranh cho Thủ đô.

ĐS&PL: Ông kỳ vọng các chương trình hành động và các chính sách đặc thù cho Thủ đô trong giai đoạn tới sẽ có những đột phá gì, nhất là trong huy động nguồn lực xã hội, phát triển hạ tầng và nâng cao năng lực cạnh tranh của Hà Nội?

ĐBQH Nguyễn Ngọc Việt: Tôi cho rằng vấn đề quan trọng trong giai đoạn tới không còn chỉ là Hà Nội "được trao thêm cơ chế gì", mà phải biến cơ chế thành nguồn lực, thành dự án, thành tăng trưởng và cuối cùng là chất lượng sống tốt hơn cho người dân.

Chúng ta đã có một nền tảng khá đồng bộ gồm Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chương trình hành động số 12-CTr/TU của Thành ủy, Nghị quyết số 158/NQ-CP của Chính phủ, Luật Thủ đô năm 2026, Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm và các cơ chế đặc thù cho những dự án chiến lược. Vấn đề là phải biến những công cụ này thành các đột phá cụ thể.

Như đột phá về huy động nguồn lực xã hội. Cần khai thác mạnh các cơ chế đặc thù về PPP, khai thác quỹ đất và giá trị tăng thêm từ đất, thu hút nhà đầu tư chiến lược, ngân sách cho dự án liên kết vùng và Quỹ Phát triển vùng Thủ đô.

Đột phá về hạ tầng chiến lược. Chuyển từ tư duy "xây công trình" sang "xây mạng lưới", kết nối đồng bộ Vành đai 4, Vành đai 5, các trục phát triển, cầu qua sông Hồng, đường sắt đô thị, đường sắt quốc gia, sân bay, logistics với hạ tầng số, năng lượng và khoa học - công nghệ. Hiệu quả đầu tư phải được đo bằng khả năng tạo ra những không gian và động lực phát triển mới.

Đột phá về đất đai, quy hoạch và phát triển đô thị. Cần khai thác hợp lý giá trị tăng thêm do hạ tầng tạo ra để tái đầu tư cho hạ tầng, hình thành một vòng tuần hoàn "hạ tầng tạo giá trị - khai thác giá trị - tái đầu tư hạ tầng", đồng thời kiểm soát đầu cơ và bảo đảm lợi ích công cộng.

Ngoài ra, đột phá về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đột phá về thể chế, quản trị và liên kết vùng.

Tôi kỳ vọng Chương trình hành động số 12-CTr/TU, Nghị quyết số 158/NQ-CP, Luật Thủ đô năm 2026 cùng các chính sách đặc thù sẽ tạo thành một "bộ công cụ phát triển" đồng bộ. Điều quan trọng nhất là biến cơ chế thành nguồn lực, nguồn lực thành hạ tầng, hạ tầng thành không gian phát triển, và từ những không gian phát triển mới tạo ra năng suất, sức cạnh tranh và chất lượng sống cao hơn cho người dân Thủ đô cũng như cả Vùng Thủ đô.

ĐS&PL: Xin trân trọng cảm ơn đại biểu!

Tin nổi bật